Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

Những yêu cầu đối với Hiến pháp trong NNPQ và những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng NNPQ Việt Nam theo Hiến pháp 2013


TS. Mai Văn Thắng
Khoa Luật, ĐHQGHN
[Bài tham dự Hổi thảo quốc tế:
"Nhà nước pháp quyền:Lý luận và thực tiễn", 
Tại trường ĐHKHXH&NV, Hà Nội, 9/2013]

 “Nhà nước pháp quyền” là một trong những thuật ngữ được nhắc đến, tranh luận nhiều nhất ở Việt Nam trong khoảng hơn một thập niên trở lại đây. Tuy vậy, đến nay vẫn còn chưa thống nhất được về mặt lý luận, nhà nước pháp quyền là gì; nhà nước này có những giá trị chung, bất biến hay tùy vào từng điều kiện cụ thể mà lại có nhà nước pháp quyền “mang màu sắc”, “đặc trưng” riêng… Sự chưa thống nhất còn thể hiện ở sự biểu đạt một cách đa dạng thuật ngữ “Rechtsstaat”[1] bằng tiếng Anh: “The rule of law”, “The rule of law state”, “The legal state”, “The state of law”…
Dù vậy, trong khoa học cũng như thực tiễn, những đặc trưng nhất, điều kiện tối thiểu cần phải có của nhà nước pháp quyền, về cơ bản, cũng đã được xác định. Theo đó, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu hay hình thức nhà nước mà thường được coi như là lý thuyết về tổ chức quyền lực nhà nước trên cơ sở đảm bảo sự tối thượng của nền pháp luật dân chủ, bình đẳng, minh bạch trong xã hội, có cơ chế sự phân quyền hợp lý nhằm giới hạn, kiểm soát và giám sát quyền lực với mục tiêu cao nhất là bảo vệ và phát triển con người.
Vậy, làm sao để có được nhà nước pháp quyền? Những tiền đề nào, điều kiện nào cần và đủ để xây dựng thành công mô hình nhà nước pháp quyền? Điều kiện nào để có được sự tối thượng của pháp luật, làm sao để nhà nước phải “nằm dưới” luật và được tổ chức và vận hành theo pháp luật…? Thực tế cho thấy, đây là những vấn đề gai góc nhất trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền ở mỗi quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam.



Để trả lời cho những câu hỏi trên, trong khuôn khổ báo cáo này, tác giả xin được tiếp cận từ góc độ của Hiến pháp. Bởi thực tế cho thấy, không có Hiến pháp theo đúng nghĩa của nó thì không có thượng tôn của pháp luật và đương nhiên cũng không có được nhà nước pháp quyền. Hiến pháp là tiền đề, là điều kiện tiên quyết, đồng thời cũng là nền tảng và đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền. Xuất phát từ quan điểm đó, tác giả đi vào phân tích những vấn đề có tính chất lý luận về hiến pháp, cũng như vai trò, ý nghĩa của hiến pháp trong thiết lập và vận hành nhà nước pháp quyền. Ngoài ra, trong bài viết này, tác giả cũng xin được phân tích Hiến pháp 2013 của Việt Nam ở những vấn đề liên quan đến nhà nước pháp quyền qua đó đưa ra những nhận định, lập luận về cơ hội và thách thức của chúng ta trên con đường xây dựng một nhà nước và xã hội pháp quyền trong giai đoạn hiện nay.
1.      Đôi điều về Hiến pháp pháp quyền
Thực tiễn chỉ ra rằng, trong nhà nước pháp quyền không thể không có sự hiện diện của Hiến pháp, nhưng không phải cứ có Bản văn Hiến pháp thì đã có nhà nước pháp quyền.
Vì vậy, để bắt đầu cho phần trình bày những khảo cứu về Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền, chúng tôi xin được dùng thuật ngữ “Hiến pháp pháp quyền” để nói về loại hiến pháp được coi là cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền và cũng là để phân biệt với những bản hiến pháp khác nhưng không phải là tiền đề, cơ sở nền tảng cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của nhà nước pháp quyền.
Để hiểu được Hiến pháp pháp quyền trước hết phải tìm hiểu về Hiến pháp. Cả trong lý luận và thực tiễn đã có rất nhiều những quan điểm, tranh luận về bản chất của hiến pháp.
Có nhiều quan điểm cho rằng, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước.[2] Quan điểm này cho rằng, Hiến pháp thực tế là một đạo luật, nhưng khác ở chỗ nó là đạo luật cơ bản, là luật gốc, là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, làm nền tảng cho tất cả các văn bản luật, dưới luật khác. Tính cơ bản của Hiến pháp trước hết thể hiện ở chỗ Hiến pháp không điều chỉnh mọi quan hệ xã hội hiện hữu mà chỉ điều chỉnh những quan hệ chủ đạo nhất, chính yếu nhất, có tính nguyên tắc và nền tảng nhất.[3] 
Phản biện lại quan điểm trên, nhiều học giả cho rằng, hiến pháp là hiến pháp chứ hiến pháp không hoàn toàn đồng nhất với đạo luật cơ bản. Giữa đạo luật cơ bản và hiến pháp có sự khác nhau.[4] Bởi khi nói đến việc làm luật là nói đến chức năng lập pháp của nhà nước, mà lập pháp chỉ là một loại quyền lực phái sinh từ hoạt động lập hiến mà ra. Lập pháp không nên đồng nhất với lập hiến. Theo họ, phàm những gì nhà nước ban hành thì không phải là hiến pháp, bởi khi ấy nó mất đi tính chất như là một văn bản có tính chất kiến tạo quyền lực, thiết lập bộ máy nhà nước.[5] Hiến pháp thực tế cũng không hẳn là một đạo luật, hiến pháp đôi khi được hình thành từ các loại nguồn khác nhau mang bản chất hiến pháp điều chỉnh những vấn đề thuộc về đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp. Hiến pháp không thành văn của Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len là một ví dụ. Ở đây không hề có một đạo luật, mà có thể có nhiều đạo luật, thậm chí là cả những tiền lệ, tập quán chính trị…mang tinh thần chủ nghĩa hiến pháp (constitutionalism).
Ngoài ra, với rất nhiều nhà khoa học, nhà tư tưởng, Hiến pháp không nên chỉ thuộc về nhà nước (sản phẩm của nhà nước) mà phải là của toàn xã hội. Nếu nói Hiến pháp là đạo luật của nhà nước là chưa đúng, bởi khi đó văn bản cao nhất lại thuộc nhà nước thì không thể đảm bảo thượng tôn pháp luật mà có chăng là thượng tôn nhà nước, bởi nếu nhà nước có quyền đặt ra Hiến pháp thì cái văn bản cao nhất của hệ thống pháp luật vẫn không cao bằng nhà nước. Trong cuốn sách Các quyền của con người (1791-1792), Thomas Paine đã khẳng định: “Hiến pháp không phải là đạo luật của chính quyền, mà là của nhân dân tạo dựng nên chính quyền và một chính quyền không có Hiến pháp là quyền lực không có quyền… ”.[6]
Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản của nhà nước bắt nguồn từ sự phát triển và lớn mạnh của phong trào cách mạng vô sản với đỉnh cao là thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917.[7] Sau khi thành công, vào năm 1918 nhà nước đầu tiên của giai cấp công nông đã ban hành bản Hiến pháp thành văn nhằm khẳng định sự thắng lợi của lực lượng, giai cấp cách mạng mới, là công cụ để tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội. Hiến pháp này được ban hành trên cơ sở tư tưởng, đường lối lãnh đạo của lực lượng cầm quyền, là sản phẩm lập pháp của chính giai cấp đó và vì vậy nó luôn được coi là sản phẩm phát sinh từ quyền lực của nhà nước để tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Hiến pháp này chỉ khác với các đạo luật khác là ở chỗ nó mang ý nghĩa của một đạo luật cơ bản. Hiến pháp theo nghĩa này là văn bản mang tính chất tư tưởng, chính trị-pháp lý được ban hành làm cơ sở nền tảng cho toàn bộ hệ thống pháp luật, không điều chỉnh một loại, nhóm hay lĩnh vực quan hệ xã hội hiện hữu mà chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội chủ đạo nhất, chính yếu và có tính nguyên tắc nhất. Ngoài ra, Hiến pháp còn được coi là cương lĩnh chính trị ghi nhận thành quả cách mạng và định hướng tư tưởng cho sự phát triển đi lên của cách mạng trong những giai đoạn tiếp theo.
Cùng với sự lớn mạnh của Liên-xô và phe xã hội chủ nghĩa, quan niệm này về hiến pháp có điều kiện phát triển. Rất nhiều bản hiến pháp với quan niệm nêu trên đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà giai đoạn phát triển rực rỡ nhất là vào nửa và cuối thế kỷ XX.[8]
Ngược lại với quan niệm đó, những người theo quan điểm thuyết “Khế ước xã hội”[9] cho rằng, Hiến pháp không phải là đạo luật cơ bản của nhà nước mà là sản phẩm của xã hội, là một sự thỏa thuận vĩ đại của những người tự do. Theo Bary M. Hager: “Hiến pháp là một tuyên bố cơ sở về những gì mà một tập đoàn người hợp lại cùng nhưng như những công dân của một quốc gia cụ thể xem như các quy tắc và giá trị cơ bản mà họ chia sẻ và với chúng mà họ tự mình tuân thủ”.[10] Một số khác thì cho rằng, Hiến pháp là bản hợp đồng thể hiện sự nhất trí giữa các thành viên của cộng đồng về các thủ tục tập thể trong việc thuê các đại diện để thực hiện một loạt dịch vụ cụ thể trong một thời gian dài và kiểm soát việc thực hiện dịch vụ của các đại diện đó.[11] Với Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama thì “Hiến pháp phải là một bản khế ước xã hội đề cao sự thỏa hiệp, thái độ nhún nhường, thỏa thuận, vì lợi ích chung của cộng đồng…[12]
Như vậy, hầu hết những người theo quan điểm thuyết “Khế ước xã hội” đều cho rằng, hiến pháp là sản phẩm của thỏa thuận xã hội nhằm tạo lập ra chính quyền và trao cho chính quyền quyền được sử dụng quyền lực trong chừng mực của thỏa thuận và bị giám sát, giới hạn để thực hiện quản lý xã hội và bảo vệ cũng như phát triển con người.
Tuy nhiên, ở đây cần làm rõ hơn vấn đề, hiến pháp là thỏa thuận giữa ai với ai – giữa những người dân tự do với nhau hay là giữa nhà nước (chính quyền) với người dân. Bởi, trong bài viết của tác giả Lý Ba[13] có trích dẫn khái niệm Hiến pháp của Từ điển Luật Black, theo đó Hiến pháp được định nghĩa là một hợp đồng giữa chính quyền và người dân theo đó quyền cai trị của chính quyền là do người dân giao cho. Trước hết, câu hỏi đặt ra ở đây là, nếu hiến pháp là một thỏa thuận giữa người dân và chính quyền thì có hợp lý không? Vấn đề là ở chỗ, có hay không một sự thỏa thuận bình đẳng, sòng phẳng giữa một bên là người có quyền (Kẻ mạnh, kẻ cai trị) và một bên không có quyền (Kẻ yếu thế, người bị trị) về vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước và nghĩa vụ của chính quyền trong việc bảo đảm quyền của dân chúng (con người). Thật khó trả lời, nhưng liên quan đến vấn đề này, Thomas Jefferson có viết: “Trong các vấn đề về quyền lực, đừng nói thêm gì nữa về lòng tin vào đức tính tốt của con người mà phải trói anh ta lại bằng một sợi dây Hiến pháp để anh ta không còn làm được những điều ác”.[14]
Như vậy, Hiến pháp về thực chất là một sợi dây xích đối với những người có quyền lực. Vậy, có ai lại dại dột tự đem dây để trói mình, tự ràng buộc mình với những trách nhiệm lớn lao là bảo vệ những người khác? Thực tế điều này vẫn có thể xảy ra khi thế lực cầm quyền đang có những thất bại chính trị nhất định và đi đến nhượng bộ chính trị. Nhưng nếu có, thì đây thường không phải là một bản thỏa thuận mà là sự nhượng bộ, sự cưỡng ép. Nếu có điều đó xảy ta thì “Hiến pháp” mất đi giá trị và tính chất của một bản thỏa thuận của những con người tự do. Ở thời đại ngày nay, thực tế có không hiến pháp đã được làm sau những cuộc khủng hoảng chính trị, những lực lượng đã thỏa thuận làm (cải cách) hiến pháp theo yêu cầu của những người biểu tình… Tuy nhiên, theo tác giả, ở đây là sự thỏa thuận giữa các lực lượng chính trị đại diện cho các nhóm, giai tầng khác nhau chứ không phải là thỏa thuận giữa chính quyền và người dân. Nhìn nhận lại khái niệm trên của Từ điển Black mà Lý Ba trích dẫn có thể thấy, thực tế chính quyền chỉ xuất hiện sau khi có được quyền cai trị do người dân giao cho thông qua thỏa thuận lập hiến.[15] Với ý nghĩa này thì người dân mới là chủ thể của quyền lực và thông qua một bản thỏa thuận xã hội họ đã ủy quyền cho một số người có được quyền cai trị xã hội theo các điều kiện ủy quyền –  điều kiện của khế ước xã hội. Điều đó có nghĩa là nhà nước cùng với mô hình tổ chức chính quyền chỉ là sản phẩm của thỏa thuận xã hội và chỉ xuất hiện sau khi những người tự do đã thống nhất (thỏa thuận) về một mô hình tổ chức quyền lực. Từ đây có thể thấy, thật khó có thể hợp logic khi một cơ quan của nhà nước làm ra Hiến pháp trong khi chỉ Hiến pháp (đúng theo nghĩa của nó) mới sáng tạo ra mô hình tổ chức nhà nước (bộ máy nhà nước). Nếu ngược lại thì sẽ không thể hợp logic và không có được thượng tôn pháp luật.
Thực tiễn cho thấy, Hiến pháp có thể được ủy quyền cho một cơ quan nào đó soạn thảo.[16] Tuy nhiên, dù được ủy quyền cho cơ quan hay thiết chế nào thì vẫn phải đảm bảo những cơ chế để người dân thể hiện quyền của người làm chủ quyền lực và là những người quyết định mô hình tổ chức quyền lực một cách thực chất. Thiếu điều này thì dù văn bản ấy cũng được gọi là “Hiến pháp” thì cũng chưa mang được tinh thần của chủ nghĩa hiến pháp.
Những điều nói trên cho thấy, nếu văn bản nào đó được gọi là Hiến pháp thì cũng chưa chắc đã hội tụ đủ phẩm chất, thuộc tính của hiến pháp. Hiến pháp không đơn thuần là đạo luật,[17] cũng không đơn thuần là một văn bản quy định về tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước.
Cũng có quan điểm cho rằng, một bản Hiến pháp thành văn chỉ có sự vững chắc và có ý nghĩa khi nó là sự phản ánh chính xác mối tương quan thực tế của các lực lượng xã hội.[18] Thực tế, Hiến pháp là kết quả của sự tương quan lực lượng trong xã hội.
Quan niệm này có lẽ, theo tác giả, là sự phản ánh có phần rất chân thực về hiến pháp. Lập hiến, trên thực tế, là một hoạt động mang tính chất chính trị, và như vậy thường gắn liền với lợi ích (nhất là lợi ích chính trị) và sự đấu tranh, thỏa hiệp để lợi ích của cá nhân, của nhóm hay của cộng đồng mình được phản ánh trong Bản văn Hiến pháp. Vì vậy, hiến pháp nhiều khi thực chất là sản phẩm của mối tương quan lực lượng chính trị trong xã hội. Hiến pháp tư sản là sản phẩm của sự thắng thế của giai cấp tư sản, hiến pháp xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh sự thắng thế của những người theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa, còn nếu không lực lượng nào thắng thế thì hiến pháp mang tính thỏa hiệp, phân chia lợi ích…
Không phủ nhận quan điểm này, nhưng tác giả cho rằng, không chỉ mang tính chất chính trị, hiến pháp còn có thuộc tính pháp lý. Không chỉ phản ánh tương quan lực lượng, hiến pháp còn là thỏa thuận xây dựng mô hình tổ chức quyền lực, một xã hội có trật tự, được quản lý, được bảo vệ và tốt đẹp hơn, là thỏa thuận về những cơ chế bảo đảm quyền lực phải luôn được kiểm soát, giám sát, giới hạn để tránh sự lạm quyền. Hiến pháp không phải chỉ đơn thuần là “Sự sắp xếp các chức vụ trong một quốc gia” (Aristotle), mà còn thể hiện khát vọng công lý, công bằng của dân chúng theo lẽ của tự nhiên, hướng tới tương lai tươi đẹp, sự bảo đảm không chỉ cho chính mình mà còn cho cả các thế hệ mai sau. Là văn kiện pháp lý, Hiến pháp không thể tách rời được mục tiêu công lý, lẽ phải, bình đẳng, công bằng và bảo vệ con người.
Rõ ràng trên thế giới đã có rất nhiều bản hiến pháp đã được làm ra, đã tồn tại và được sửa đổi, bổ sung, nhưng không phải ở tất cả những nơi đó đều đã có nhà nước và xã hội pháp quyền. Chúng ta không thể phủ nhận rằng hiến pháp đã thực sự tồn tại ở rất nhiều quốc gia. Có thể hiến pháp ở quốc gia này được hiểu như thế này, ở quốc gia khác lại được hiểu theo cách khác. Có thể có bản Hiến pháp đã chứa đựng đầy đủ tinh thần của chủ nghĩa hiến pháp, nhưng cũng có thể chưa hề có hoặc không đầy đủ, nhưng nó vẫn là Hiến pháp và không thể gọi nó dưới cái tên gọi khác. Ở mọi nơi, mọi xã hội mà ở đó đã có hiến pháp, dù được làm ra bằng bất kỳ hình thức nào, hiến pháp vẫn được coi là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất (dù là trên thực tế có thể không phải như vậy), là cơ sở cho tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước, là nền tảng cho cả hệ thống pháp luật quốc gia…
Như vậy về mặt hình thức, hiến pháp có ở tất cả những nơi mà nó đã, đang tồn tại, nhưng “Hiến pháp pháp quyền” thì không phải ở nơi nào cũng có. Với tác giả, Hiến pháp pháp quyền là loại hiến pháp chỉ có trong nhà nước pháp quyền, nó vừa là điều kiện tiên quyết, là nền tảng và cũng là đặc trưng của nhà nước pháp quyền.
Vậy, Hiến pháp pháp quyền phải là một Hiến pháp như thế nào? Theo tác giả, Hiến pháp pháp quyền trước hết phải là một Hiến pháp với những thuộc tính sau:
Thứ nhất, Hiến pháp pháp quyền phải là Hiến pháp khẳng định chủ quyền nhân dân, khẳng định nền tảng dân chủ.
Đa phần các bản Hiến pháp hiện đại, bằng cách này hay cách khác, đều khẳng định nguồn gốc của quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là ở bản thân Hiến pháp phải là minh chứng cho chủ quyền thực chất của người dân. Người dân phải là những người có tiếng nói quyết định, hay nói một cách khác là “thỏa thuận” để làm nên Hiến pháp. Chủ quyền nhân dân trên hết và trước hết phải là quyền tự quyết trong vấn đề lập hiến. Chủ quyền có các đặc tính là “duy nhất” “không thể chuyển nhượng” và “không có thời hiệu”,[19] vậy nên người dân cần thiết phải tham gia vào quyết định vấn đề hệ trọng nhất là lập ra bộ máy quyền lực, trao quyền cho họ để họ quản lý lại chính mình. Việc ủy quyền cho người khác quyết định vận mệnh của mình, tương lai của các thế hệ sau của mình là vô cùng mạo hiểm, bởi “quyền lợi cá nhân là phổ thông” và “lo tư lợi cho mình là khuynh hướng của tất cả mọi người.[20] Chính vì vậy, ngoài việc khẳng định nhân dân là gốc của quyền lực, Hiến pháp pháp quyền phải khẳng định đồng thời bản thân nó phải là minh chứng hùng hồn cho việc “nhân dân mới là người xây dựng nên Hiến pháp”.
Tại sao lại như vậy? Bởi nếu nhà nước hay bất kỳ một cơ quan nhà nước nào khác tự làm hiến pháp hoặc có lấy ý kiến nhân dân một cách không thực chất thì không thể có thượng tôn pháp luật. Hiến pháp là luật cao nhất thì không thể và không nên là sản phẩm của nhà nước.
Thuộc tính chủ quyền nhân dân của Hiến pháp pháp quyền luôn gắn liền với thuộc tính dân chủ. Hiến pháp này là sản phẩm của thể chế dân chủ và cũng chính là công cụ thể hiện thực hóa thể chế dân chủ. Không thể có nhà nước pháp quyền nếu không có một bản Hiến pháp được làm nên bằng con đường dân chủ. Nội hàm khái niệm dân chủ vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên với tiêu chí của nhà nước pháp quyền, dân chủ có nghĩa là “Phương thức cầm quyền mà cho phép các cá nhân, các nhóm người và các chủ thể khác nhau trong xã hội cơ hội bình đẳng với nhau để tham gia vào tất cả các quá trình và các hoạt động chính trị một cách đầy đủ và thực sự”.[21] Dân chủ như là một trong những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp pháp quyền không đồng nghĩa với quyết định của đa số, mà là quyền lực thuộc về đa số nhưng quyền lợi của thiểu số phải luôn được bảo vệ.[22] Không có bản hiến pháp dân chủ và bản thân trong nó không chứa đựng các nguyên tắc dân chủ, không thể có nhà nước pháp quyền. Bản thân nội hàm khái niệm dân chủ đã khẳng định quyền lực tối cao và thống nhất thuộc về nhân dân và chỉ có như vậy nhà nước mới có thể “nằm dưới” hoặc “được tạo ra” từ các quy tắc từ sự đồng thuận của người dân và những quy tắc xử sự từ ý dân mới cao hơn được các mệnh lệnh của nhà nước.
Thứ hai, Hiến pháp pháp quyền là Hiến pháp nhân quyền và bảo vệ nhân quyền.
Ngay từ đầu trong Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Mỹ nhân quyền đã không được đề cập. Mặc dù có rất nhiều cách lý giải, tranh luận khác nhau nhưng cuối cùng nhân quyền đã trở thành một nội dung cơ bản của Hiến pháp Hoa Kỳ. Ngày nay, trong hầu hết các bản hiến pháp, nhân quyền đã trở thành nội dung quan trọng bậc nhất, không thể thiếu.[23]
Sự hiện diện của nhân quyền trong Hiến pháp pháp quyền nhằm trước hết và trên hết khẳng định chủ quyền nhân dân, nhân dân là người nắm giữ quyền lực tối cao và qua đó cổ vũ chop việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền. Ngoài ra, việc ghi nhận nhân quyền trong Hiến pháp pháp quyền còn mang ý nghĩa gắn chặt trách nhiệm của nhà nước pháp quyền phải bảo vệ nhân quyền. Nhân quyền vẫn được coi là phạm trù đa diện và mang nhiều nghĩa khác nhau, vì vậy việc ghi nhận nhân quyền trong Hiến pháp pháp quyền chỉ góp phần khẳng định chủ quyền và nghĩa vụ của nhà nước – tổ chức được ủy quyền để bảo vệ nhân quyền và tránh việc “bỏ bê”, “vô trách nhiệm” hoặc thậm chí vi phạm nhân quyền từ phí nhà nước.
Nhà nước pháp quyền được xây dựng không phải để cho “đẹp”, mà người dân tạo ra nó phải để phục vụ cho chính họ, bảo vệ chính họ. Vì vậy, Hiến pháp pháp quyền không thể thiếu nhân quyền.
Chỉ ghi nhận nhân quyền không chưa đủ, Hiến pháp pháp quyền còn là Hiến pháp bảo vệ nhân quyền. Việc ghi nhận nhân quyền chỉ là điều kiện cần, còn nếu ghi nhận mà không có cơ chế hữu hiệu bảo vệ nhân quyền thì Hiến pháp đó cũng chưa phải là Hiến pháp pháp quyền. Thực tế có không ít bản Hiến pháp có ghi nhận quyền con người, quyền công dân, tuy nhiên lại không rõ cơ chế để bảo vệ nó một cách hữu hiệu. Những bản Hiến pháp ấy khó có thể gọi là Hiến pháp pháp quyền.
Thông thường, ở mỗi quốc gia tùy vào điều kiện cụ thể mà có những cơ chế hữu hiệu khác nhau để bảo vệ nhân quyền, nhưng về cơ bản là không thể thiếu những thiết chế sau: 1) Thiết chế bảo hiến độc lập; 2) Tư pháp độc lập; 3) Phân quyền; 4) Có các thiết chế bảo vệ nhân quyền độc lập; 5) Bầu cử định kỳ và tự do; 6) Có các thiết chế phản biện và giám sát xã hội độc lập; 7) Sự phát triển của các hình thức dân chủ, nhất là dân chủ trực tiếp. Những thiết chế này thường được ghi nhận trực tiếp trong Hiến pháp pháp quyền.
Thứ ba, Hiến pháp pháp quyền là Hiến pháp tổ chức chính quyền, phân quyền và là cơ sở để xác lập các cơ chế kiểm soát, giới hạn và giám sát quyền lực.
Hầu hết các bản Hiến pháp đều có một trong những mục đích quan trọng bậc nhất là tổ chức chính quyền. Tổ chức chính quyền được Aristotle gọi là “sự xắp sếp các chức vụ trong một quốc gia”. Tuy nhiên, với Hiến pháp pháp quyền thì tổ chức chính quyền được hiểu là văn bản kiến tạo quyền lực, kiến tạo bộ máy chính quyền. Quyền lực và chính quyền chỉ sinh ra sau khi đã có bản thỏa thuận lập hiến là Hiến pháp. Vì vậy, Hiến pháp pháp quyền luôn có cơ chế để tách bạch lập hiến và lập pháp.
Hiến pháp pháp quyền còn khác với các hiến pháp khác ở chỗ nó không thể hiện ý chí của nhà nước trong tổ chức chính quyền mà là thể hiện ý chí của nhân dân. Hiến pháp pháp quyền quy định cách thức, hình thức cầm quyền mà bất cứ thế lực nào lên nắm quyền cũng phải tuân theo.
Với cơ sở là một Hiến pháp kiến tạo quyền lực, Hiến pháp pháp quyền luôn ghi nhận nguyên tắc phân quyền. Phân quyền là phương thức tốt nhất để quản lý chính quyền và đảm bảo tính hiệu quả của quyền lực, tạo khả năng tự giám sát và giám sát quyền lực. Thomas Jeffeson cũng đã từng viết “Trong các vấn đề về quyền lực, đừng nói thêm gì nữa về lòng tin vào đức tính tốt của con người mà phải trói anh ta lại bằng một sợi dây Hiến pháp để anh ta không còn làm được những điều ác”.[24] Phân quyền ở mỗi quốc gia khác nhau có thể hiểu là sự phân chia quyền lực theo chiều ngang: phân chia thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; theo chiều dọc: phân chia quyền lực giữa chính quyền trung ương và địa phương; và có thể là phân chia quyền lực giữa nhà nước và xã hội dân sự.[25]  Dù cách này hay cách khác, phân quyền phải tạo được cơ chế tự giám sát (giám sát bên trong) và giám sát (giám sát bên ngoài - giám sát từ phía người dân, từ các thiết chế phi nhà nước, xã hội dân sự và quốc tế). Phân quyền nhằm mục tiêu cao nhất là giám sát, cân bằng quyền lực, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực và sử dụng hiệu quả quyền lực. Ở giác độ này, phân quyền là điều kiện cơ bản cho pháp quyền.
Thứ tư, Hiến pháp pháp quyền là Hiến pháp được bảo vệ và có khả năng ngăn ngừa sự chuyên chế và những cảm xúc nhất thời của công chúng.
Nếu không được bảo vệ một cách chắc chắn, Hiến pháp có thể đảm bảo cho sự ra đời và tồn tại của nhà nước pháp quyền. Những quy định của Hiến pháp mang tính chất nền tảng, là những thỏa thuận vĩ đại về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền của những người được ủy quyền đối với dân chúng. Nếu không được bảo vệ chắc chắn, khi những người có được quyền lực sẽ cố gắng thay đổi để giảm bớt nghĩa vụ, trách nhiệm và tăng quyền cho mình. Đó là chuyện bình thường bởi nhà cầm quyền cũng là con người.  St. Holmes đã từng viết “Là người bình thường, nhà cầm quyền cũng cần phải bị cai trị[26] người cầm quyền cũng chỉ là người bình thường vì họ có tất cả tình cảm, cảm xúc, hỉ, nộ ái, ố của một con người, họ cũng cần phải bị giám sát, kiềm chế. Nếu không có sự giám sát, kiềm chế thì họ sẽ thay đổi Hiến pháp theo chiều hướng có lợi cho mình.
Bảo hiến còn thể hiện ở chỗ Hiến pháp phải khó bị thay đổi. Hiến pháp pháp quyền phải có quy trình sửa đổi hết sức chặt chẽ, minh bạch và khó khăn. Điều này cho phép ngăn ngừa được cảm xúc nhất thời của công chúng hay sự lớn mạnh bất thường tạm thời của một lực lượng chính trị. Bởi cùng với sự lớn mạnh tạm thời đó lực lượng chính trị thường nghĩ đến sửa đổi Hiến pháp theo chiều hướng có lợi cho vị trí và định hướng chính trị của họ. Nếu dễ bị thay đổi, Hiến pháp mất đi tính tối cao, và như vậy, sẽ không có sự thượng tôn của Hiến pháp. Không có thượng tôn Hiến pháp thì không có thượng tôn pháp luật và tất nhiên cũng sẽ không có pháp quyền.
Trên thế giới có rất nhiều phương thức bảo hiến khác nhau, có thể bảo hiến tập trung, bảo hiến phi tập trung, có thể do một cơ cơ quan chuyên trách cũng có thể không chuyên trách đảm nhiệm… Nhưng dù là cơ quan nào, thiết chế nào, Hiến pháp pháp quyền cần phải là Hiến pháp được bảo vệ một cách chắc chắn bởi các thiết chế bảo hiến độc lập.
Thứ năm, Hiến pháp pháp quyền là Hiến pháp có có vị trí tối thượng và có khả năng đảm bảo cho hệ thống pháp luật được thống nhất, nhân đạo, công bằng, minh bạch, và có tính tiên liệu.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước có sự thượng tôn của pháp luật. Tất cả mọi văn bản pháp luật, văn bản áp dụng và giải thích pháp luật do các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khác nhau của nhà nước ban hành đều không được trái với Hiến pháp. Hiến pháp pháp quyền có vị trí thượng tôn còn vì nó được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi mọi sự vi hiến của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, kể cả những người có quyền lực.
Tính thượng tôn của Hiến pháp pháp quyền là sự biểu hiện rõ nét nhất của nhà nước pháp quyền. Nếu Hiến pháp không được tôn trọng, bảo vệ và có vị trí tối thượng, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có thể ban hành những văn bản trái với tinh thần Hiến pháp, trái với ý nguyện nhân dân để phục vụ lợi ích của riêng họ. Khi ấy, Hiến pháp sẽ bị “lãng quên”, có nghĩa những thỏa thuận về nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà nước trước nhân dân sẽ bị lãng quên. Nhà cầm quyền không “bị trói bởi sợi dây Hiến pháp nữa”, và mỗi người, mỗi cơ quan tùy vào địa vị của mình sẽ ban hành những văn bản phục vụ lợi ích của riêng mình. Mỗi loại văn bản lại theo đuổi một tiêu chí, định hướng và mục tiêu riêng. Pháp luật khi ấy sẽ mất đi những nguyên lý căn bản nhất hay thậm chí không còn “legal doctrine” và rồi mất đi tính hệ thống vốn có. Tệ hại hơn, pháp luật không còn xuất phát từ ý nguyện dân chúng mà là xuất phát từ ý nguyện chính trị của các “nhóm lợi ích” từ đó người dân sẽ xa lánh, sẽ chạy trốn và chống lại pháp luật. Liệu nhà nước pháp quyền có thể tồn tại trong một xã hội với những văn bản đầy tính áp đặt và cưỡng chế? Pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải là pháp luật xuất phát từ ý nguyện của dân chúng. Khi xuất phát từ ý nguyện của nhân dân, pháp luật là những quy phạm, quy tắc xử sự mang đầy tính nhân văn, công bằng và lẽ phải, phản ánh đúng cách nghĩ, cách xử sự chuẩn mực nhất của cộng đồng. Pháp luật ấy là pháp luật đi ra từ cuộc sống và sẽ được chấp nhận một cách tự nhiên không áp đặt. Con người ta thông thường luôn giữ gìn và trân trọng những gì mình làm ra.
Làm sao để có được điều đó trong khi người dân không tự làm ra các đạo luật, nghị định, thông tư hay là các án lệ… ? Làm sao để các văn bản đó đều hướng tới một mục tiêu, một giá trị và một tư tưởng thống nhất? Câu trả lời chỉ có thể là thượng tôn của Hiến pháp. Hiến pháp là văn bản người dân làm ra, trong đó ghi nhận những nguyên lý cơ bản nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, những giá trị, tư tưởng cốt lõi nhất mà cộng đồng, xã hội hướng tới, tôn thờ. Tất cả tuân theo Hiến pháp thì pháp luật mới được thượng tôn, mới được thống nhất, công bằng và dễ tiên liệu và cũng chỉ như thế mới có được pháp quyền.
2.      Hiến pháp 2013: cơ hội và thách thức trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền
Xây dựng nhà nước pháp quyền đã được xác định là mục tiêu có tính chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đã có rất nhiều những nỗ lực được thực hiện để đẩy nhanh tiến trình ấy, trong đó trước hết phải kể đến việc thông qua Hiến pháp 2013.
Thiết nghĩ, đây là nhận thức rất đúng đắn của Đảng và Nhà nước khi xem Hiến pháp là chìa khóa quan trọng nhất của cộng cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh dân chủ hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, hợp tác quốc tế. Điều này chứng tỏ sự hiện diện tư duy pháp quyền, coi pháp luật là công cụ quan trọng bậc nhất trong tổ chức, quản lý và định hướng phát triển xã hội.
Dưới đây tác giả xin trình bày một số quan điểm mà theo tác giả là cơ hội và thách thức cơ bản trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Những cơ hội cơ bản:
1)     Hiến pháp 2013 có lẽ là một trong những bản Hiến pháp dân chủ nhất trong lịch sử lập hiến Việt Nam. Dân chủ không chỉ thể hiện ở việc có sự tham gia góp ý kiến của rộng rãi quần chúng nhân dân, các tổ chức chính trị-xã hội, người Việt Nam ở nước ngoài vào quá trình sửa đổi, bổ sung Hiến pháp mà còn ở vị trí của nhân dân trong Hiến pháp. Ngay tại Lời nói đầu của Hiến pháp 2013 đã khẳng định “Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giầu, nước mạng, công bằng, dân chủ, văn minh”. Đây là quy định hết sức quan trọng, bởi khác với Hiến pháp 1992, người dân đã được đặt vào vị trí là chủ nhân, người “xây dựng” Hiến pháp. Thiết nghĩ, chỉ có như vậy mới đáp ứng được tiêu chuẩn của nhà nước pháp quyền.
2)     Một cơ hội quan trọng khác để xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam là những quy định về chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp và khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền. Hiến pháp 2013 khẳng định tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân có thể thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cả hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.[27] Việc khẳng định dân chủ và khẳng định người dân có thể thực hiện quyền làm chủ của mình bằng tất cả các hình thức dân chủ cho thấy sự tiến triển mạnh mẽ trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ. Cũng tại Hiến pháp này, Đảng đã xác định là lực lượng “có nghĩa vụ và trách nhiệm” lãnh đạo nhân dân xây dựng nhà nước và xã hội và chịu sự giám sát của nhân dân. Quy định này đã cho thấy sự chuyển biến trong tư duy của Đảng đồng thời nâng cao trách nhiệm của Đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng đối với dân, với nước.
3)     Hiến pháp 2013 đã lần đầu tiên khẳng định đây là bản Hiến pháp nhân quyền. Các bản Hiến pháp của Việt Nam trước đây đều có chương ghi nhận quyền công dân, tuy nhiên chỉ có Hiến pháp 2013 mới là Hiến pháp ghi nhận quyền con người trong chương II “Quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Đây là cơ hội rất tốt để hoàn thiện hệ thống pháp luật nhân quyền như là mục tiêu cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền. Ở mức độ nào đó, Hiến pháp 2013 đã được coi là Hiến pháp nhân quyền bởi đã tách bạch được quyền con người và quyền công dân và rất nhiều trong số đó đã ghi nhận những quyền con người theo những tiêu chuẩn quốc tế.
4)     Hiến pháp 2013 đã phần nào khẳng định là bản Hiến pháp phân quyền. Mặc dù vẫn khẳng định nguyên tắc quyền lực là thống nhất, nhưng đây là lần đầu tiên Hiến pháp đã chỉ rõ các cơ quan thực hiện quyền lập pháp (Quốc hội), quyền hành pháp (Chính phủ) và quyền tư pháp (Tòa án). Đây là điều không hề có trong Hiến pháp 1992. Bên cạnh đó đã có sự sắp xếp lại thẩm quyền, tổ chức lại các cơ quan,[28] đảm bảo sự kiềm chế, cân bằng quyền lực. Không chỉ manh nha phân quyền ngang, Hiến pháp 2013 còn khẳng định phân quyền dọc khi quy định rất nhiều điểm mới trong chương IX “Chính quyền địa phương”. Theo khoản 2 Điều 112 “Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương” và “Cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính-kinh tế do luật định” (Khoản 2 Điều 111). Những quy định trên cho thấy sự tiến chuyển mạnh mẽ của tư duy phân quyền trong tổ chức quản lý nhà nước ở Việt Nam.  Bên cạnh phân quyền ngang, dọc, Hiến pháp 2013 cũng đã khẳng định các hình thức dân chủ trực tiếp, như: trưng cầu dân ý, bãi miễn, phản biện xã hội… Rõ ràng đây là các cơ hội để xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
5)     Cơ hội tiếp theo, theo tác giả, là ở chỗ cần hoàn thiện lại hệ thống pháp luật theo tinh thần Hiến pháp mới, trước hết là pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương, về dân chủ và nhân quyền. Đây là điều kiện tốt để làm cho bộ máy nhà nước và pháp luật của chúng ta đổi mới và có hệ thống hơn.
Những thách thức cơ bản:
1)     Bảo hiến có lẽ là thách thức rất quan trọng của chúng ta sau khi có Hiến pháp 2013. Trong nhiều bản dự thảo đã thấy có sự hiện diện của mô hình bảo hiến: Hội đồng Hiến pháp. Tuy nhiên, do có nhiều lý do khác nhau trong Hiến pháp 2013 lại quay lại mô hình bảo hiến phi tập trung. Điều này tạo ra một thách thức không hề nhỏ cho việc bảo vệ Hiến pháp 2013 – Hiến pháp được cho là có nhiều thành quả và dân chủ. Vì phi tập trung nên cần phải làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao trọng trách bảo hiến. Việc này không hề đơn giản, tuy nhiên lại vô cùng quan trọng, bởi Hiến pháp của nhà nước pháp quyền cần phải được bảo vệ nghiêm ngặt.
2)     Thách thức là ở việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước theo tinh thần Hiến pháp 2013. Chúng ta đã có Hiến pháp mới, nhưng hầu như thực tiễn lập pháp vẫn còn rất loay hoay để xây dựng các luật liên quan đến tổ chức nhà nước, các luật tố tụng, luật về nhân quyền, giám sát, phản biện xã hội… Chúng ta sẽ xây dựng Luật về Hội đồng bầu cử quốc gia hay sửa đổi những quy định của Luật bầu cử Quốc hội, HĐND? Cần phải xây dựng mô hình chính quyền địa phương như thế nào theo Hiến pháp mới? Làm thế nào để tư pháp độc lập, mô hình nào cho tư pháp, làm thế nào để các nhánh quyền lực có thể giám sát lẫn nhau tốt hơn... là những câu hỏi chưa dễ trả lời ngay trong thời gian trước mắt. Không chỉ hoàn thiện bộ máy nhà nước ở cả trung ương và địa phương, cái khó nhất ở đây là làm sao để xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy chính quyền theo định hướng của nhà nước pháp quyền có sự phân quyền hợp lý, đảm bảo hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ và bảo đảm bảo vệ và thực thi dân chủ, nhân quyền.
3)     Thách thức tiếp theo là làm thế nào vừa mở rộng, phát huy dân chủ, kinh tế thị trường đồng thời vẫn đảm bảo định hướng, kiên định con đường đã chọn đi lên chủ nghĩa xã hội trong thế giới toàn cầu hóa. Nhân dân qua Hiến pháp mới cũng đồng thời chọn cả hai mục tiêu. Rõ ràng đây là một thử thách không nhỏ, nhưng cần thiết phải thực hiện.
 Kết luận:
Nhà nước pháp quyền là sự lựa chọn phát triển của rất nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Để có được nhà nước pháp quyền, trước hết và trên hết phải có Hiến pháp pháp quyền. Hiến pháp pháp quyền không chỉ là điều kiện, tiền đề mà còn là đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền. Chỉ có Hiến pháp ấy mới cho phép sự hiện diện của sự thượng tôn pháp luật, của mô hình tổ chức quyền lực được tổ chức và hoạt động trên cơ sở của pháp luật (mà trên hết là Hiến pháp) với sự phân quyền hợp lý, khoa học đảm bảo các quyền, tự do cơ bản của con người, coi con người là trung tâm của mọi hoạt động nhà nước. Và cũng chỉ có Hiến pháp pháp quyền mới đảm bảo cho sự hiện hữu của một hệ thống pháp luật thống nhất, nhân đạo, nhân văn, công bằng, dân chủ và vì con người.
Việt Nam đã có những bước tiến dài trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền. Trên hết và trước hết là việc ban hành Hiến pháp 2013. Bản Hiến pháp này đã tạo ra những động lực mới góp phần đẩy mạnh tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, Hiến pháp cũng đặt ra không ít thử thách cần phải vượt qua. Nhận diện và nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức là con đường để xây dựng thành công nhà nước pháp quyền – mục tiêu, khát vọng của nhân dân Việt Nam.







[1] Thuật ngữ được dùng lần đầu tiên bởi nhà triết học, nhà tư tưởng người Đức I. Can-tơ
[2]  Lời nói đầu Hiến pháp 1980, Điều 146 Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt Nam; Tên gọi của các bản Hiến pháp Liên-xô: Hiến pháp (Luật cơ bản) của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết; Giáo trình Luật Hiến pháp, Trường ĐHL Hà Nội. Nxb. CAND, Hà Nội, 2008, tr.66…
[3] Đào Trí Úc, Hiến pháp trong đời sống xã hội và quốc gia. In trong sách: Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn (Sách chuyên khảo), Nxb. ĐHQGHN, 2011, tr.29.
[4]”http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=6162&CategoryID=42 (Bài viết: Nhầm lẫn khái niệm Hiến pháp của TS. Nguyễn Sĩ Phương)
[5] Lý Ba, Chủ nghĩa hợp hiến là gì?. In trong sách Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến: Một số tiểu luận của các học giả nước ngoài, Nxb. Lao động-xã hội, Hà Nội, tr. 41,43.
[6] Dẫn theo: Ngô Huy Cương, Luật hiến pháp và văn hóa chính trị. In trong sách Hiến pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn. Nxb. ĐHQGHN, 2011, tr. 57.

[7] Ngay trong tên gọi của bản Hiến pháp đầu tiên của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết Nga năm 1918 đã viết: Hiến pháp (Luật cơ bản) của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết Nga. Nguyên văn bằng tiếng Nga: «Конституция (Основной Закон) Российской Социалистической Федеративной Советской Республики (принята V Всероссийским Съездом Советов в заседании от 10 июля 1918 г.)”

[8] Ở Liên Xô, Trung Quốc, các quốc gia XHCN Đông Âu, Việt Nam, Triều Tiên…
[9] Đại diện tiêu biểu, những nhà tư tưởng khai sáng ra thuyết này gồm: T. Hobbes, J. Loke, J. Rousseau.
[10] Xem Barry M. Hager, “The rule of Law – A Lexicon for Policy Maker”, The Mansfieid Center for Pacific Affairs, 1999, p.19.
[11] Xem: Lựa chọn công cộng – Một cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công. Viện chính trị học, học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, tr. 135.
[12]  Barack Obama, Hy vọng và táo bạo, Nxb. Trẻ, tr. 104.
[13] Lý Ba, Sđd tr. 38.

[14] Xem: Jay M.Shafrits. tr. 278. (Dẫn theo: Nguyễn Đăng Dung in trong sách Hiến pháp những  vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. ĐHQGHN, tr. 20).
[15]  Bởi theo Từ điển … theo đó quyền cai trị của chính quyền là do người dân giao cho”.
[16] Liên quan đến vấn đề này, tác giả Mai Thái Lĩnh trong bài “Quyền lập Hiến và trưng cầu dân ý” cho rằng, dân có quyền lập hiến không đồng nghĩa với việc dân phải trực tiếp phúc quyết Hiến pháp (http://hienphap.net/2013/05/04/quyen-lap-hien-va-trung-cau-dan-y-mai-thai-linh/)
[17] Theo PGS.TS. Ngô Huy Cương: Không nên coi Hiến pháp chỉ là một văn bản, Bản thân Bản văn Hiến pháp (Hiến pháp thành văn) cũng chỉ là một loại nguồn của Luật Hiến pháp mà thôi. (Xem: Ngô Huy Cương, Luật Hiến pháp và văn hóa chính trị. Tạp chí: Nghiên cứu Lập pháp, Đặc san Chuyên đề Hiến pháp và các luật về nhà nước, số 1, tháng 4/2001.)
[18]  Quan điểm của Ph. Lassal nhà cách mạng xã hội người Đức (1825-1864). Trích trong cuốn: “Ten years of Democratic Constitutionalism in Central and Easten Europe”. Budapesht, 2001, p. 33.
[19] Ngô Huy Cương, Luật Hiến pháp và văn hóa chính trị. Tạp chí: Nghiên cứu Lập pháp, Đặc san Chuyên đề Hiến pháp và các luật về nhà nước, số 1, tháng 4/2001.

[20] Cụ thể xem thêm: Lý Ba, Chủ nghĩa hợp hiến là gì? In trong sách chuyên khảo “Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến – Một số tiểu luận của các học giả nước ngoài”. Nxb. Lao động – Xã hội, 2012, tr. 41.
[21] Xem Giáo trình Lý luận về quyền con người, Khoa Luật, ĐHQGHN, Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (Chủ biên), Nxb. ĐHQGHN, năm 2011, tr. 87.
[22] Liên quan đến vấn đề này, trong bài viết “Các hình thức dân chủ và việc mở rộng dân chủ ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6 (314), 2014, tr. 35, tác giả Nguyễn Minh Tuấn có viết: “Dân chủ là quá trình hướng tới sự đồng thuận mà thiểu số phải phục tùng đa số còn đa số phải bảo vệ quyền lợi của thiểu số”. Tác giả cho rằng quan niệm này cũng phù hợp với nguyên tắc dân chủ trong Hiến pháp pháp quyền.
[23]  Trong cuốn sách chuyên khảo: Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới (Ban Biên tập sửa đổi Hiến pháp), Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, 2012, tr.19, Nhân quyền được khái quát là một trong sáu chức năng cơ bản của Hiến pháp.
[24] Xem: Jay M.Shafrits. tr. 278. (Dẫn theo: Nguyễn Đăng Dung in trong sách Hiến pháp những  vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. ĐHQGHN, tr. 20)
[25] Xem thêm: Mai Văn Thắng, Mô hình phân quyền ở Liên bang Nga // Nghiên cứu lập pháp số 13 tháng 7/2012 (p.1)
[26] Holmes, Stephen. Passions and Constraint: On the Theory of Liberal Democracy. Chicago: University of Chicago Press, 1995, p.5.
[27] Các điều 2, 3 và điều 6.
[28] Theo Hiến pháp 2013 Kiểm toán nhà nước chuyển sang là cơ quan độc lập do Quốc hội thành lập, chỉ tuân theo pháp luật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.