Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

Bối cảnh, tình hình chính trị và các chính sách quản lý đất nước thời Hậu Lê


TS. Mai Văn Thắng
Khoa Luật - ĐHQGHN
[Trích trong sách "NN&PL triều Hậu Lê
với việc bảo vệ quyền con người", Nxb. ĐHQGHN, 2014]


    1. Bối cảnh, tình hình chính trị và các chính sách quản lý đất nước giai đoạn từ Lê Thái Tổ đến trước thời kỳ Lê Thánh Tông
Như đã nói ở trên, Hậu Lê được thiết lập trên cơ sở thắng lợi vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn trước giặc Minh xâm lược. Vì vậy, trong giai đoạn đầu, tình hình chính trị và các chính sách quản lý nhà nước của các vị vua trước thời Lê Thánh Tông thể hiện mối liên hệ sâu sắc với cuộc khởi nghĩa này.
Trước hết, phải kể đến sự ảnh hưởng của đội ngũ tướng lĩnh, những khai quốc công thần trong nền chính trị, hành chính quốc gia cũng như trong các chính sách quản lý đất nước của các vị vua trong giai đoạn đầu trị quốc.


Đã từng vào sinh ra tử, cùng sát cánh bên nhau đánh giặc cứu nước nên khi có thái bình thịnh trị Lê Thái Tổ không thể không “ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”. Trong mấy chục năm đầu của triều đại, những danh tướng như Lê Sát, Lê Khuyến, Lê Diên, Lê Văn Linh, Lê Luyện, Lê Lễ, Đinh Liệt, Nguyễn Xí, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn Xảo… hiện diện trong hàng ngũ đại quan, những chính khách có ảnh hưởng lớn đến triều đình là điều không có gì làm lạ. Và chính họ đã có ảnh hưởng không nhỏ lên tư tưởng chính trị đầu Hậu Lê.
Về những ảnh hưởng tích cực lên chính sách, tư tưởng triều đại từ những khai quốc công thần, phần nào đã được đề cập ở trên. Trước hết phải kể đến chính sách trọng dụng người tài trong bộ máy nhà nước, điều mà trước đây chủ yếu dành cho giới quý tộc.[1]
Ngay trong những năm đầu tiên của triều đại, Lê Lợi đã cố gắng để đưa ra những quyết sách xây dựng bộ máy nhà nước, cố gắng thiết lập chế độ quan lại tìm kiếm người tài phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước trong tình hình mới.
Trong Đại Việt sử ký toàn thư có viết: “Thái Tổ từ khi lên ngôi tới nay, thi hành chính sách thật sự rất khả quan, như ấn định luật lệ, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách vở, mở mang trường học… cũng có thể gọi là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp…”.[2] Năm 1428, tháng 6 năm 1428, Thái Tổ đã ra lệnh chỉ: “Khảo xét các quan trong ngoài, xếp loại. Hạng nhất: tài văn võ, tinh nhanh. Hạng hai viết tinh, viết thảo, làm tính”. Tháng 11: Lệnh cho các quan viên và quân dân cả nước, hạn đến tháng 5 sang năm tới đông Kinh để các quan văn hỏi thi kinh sử, ai tinh thông được bổ làm quan văn, các quan võ hỏi thi về kinh, pháp lệnh, kì thư. Năm 1429, tháng 5 hạ lệnh chỉ: “Quân nhân phủ lộ và những người ẩn dật nếu ai quả thự thông kinh sử, giỏi văn nghệ thì đến sảnh đường trình diện cho vào thi Minh kinh, ai đỗ sẽ được tuyển dùng”. Năm 1434, tháng 8: “Thi lại viên, hỏi về ám tả (đọc để viết)”. Năm 1437, tháng giêng: “Thi viết chữ, làm tính lấy đỗ 690 người bổ làm thuộc lại nha môn trong, ngoài”. Năm 1444, tháng giêng: “Thi chọn sĩ nhân bổ làm thuộc lại các ty”… Ngoài ra, Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông cũng rất hiểu tình trạng và năng lực các công thần – đại thần trong bộ máy nhà nước nên thưởng xuyên ra các chiếu “cầu hiên” và đề nghị các đại thần giới thiệu người tài. Ví dụ như, Năm 1428, tháng 6 ra lệnh chỉ: “Cho các đại thần cà các quan văn võ đều tiến cử người hiền lương, phương chính. Nếu tiến cử được người tài giỏi thì bản thân được tăng lương theo lệ tiến cử hiền thần”. Năm 1429, ra lệnh chỉ: “Những văn võ hào kiệt nào còn bị bỏ sót hoặc bị chìm đắm chưa có chức tước gì, không được ai tiến cử hoặc vì thù hằn mà bị đè nén, vùi dập thì đến ngay chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh mà từ tiến”. Tháng 9, hạ lệnh: “Các đại thần văn võ, công hầu đại phu từ tam phẩm trở lên phải tiến cử lấy một người hiền tài, vì trẫm chưa tìm kiếm được người hiền tài giúp đỡ trị nước”.[3]
Như vậy, khác với các triều đại trước, ngay từ đầu nhà Hậu Lê đã coi trọng việc sử dụng người tài mà không chú trọng đến xuất thân của họ. Rõ ràng, tính chất “áo vải” của Lê Lợi cũng như các tuớng lĩnh của cuộc khởi nghĩa hay tư tưởng vị dân, nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã ảnh hưởng không nhỏ tới những chính sách quản lý cũng như tổ chức nhà nước của thời kỳ này.
Tuy nhiên, việc sử dụng đội ngũ khai quốc công thần, mà phần lớn trong số họ là những võ tướng và cả những người có xuất thân từ tầng lớp nông dân áo vải, những người quen trận mạc đã làm ảnh hưởng có phần tiêu cực tới những chính sách cũng như năng lực của bộ máy nhà nước trong thời bình ở trong giai đoạn đầu nhà Hậu Lê. Trong phần này, để làm rõ hơn sự cấp thiết và ý nghĩa của những cuộc cải cách của Lê Thánh Tông, chúng tôi cũng xin được trình bày một cách khái quát bối cảnh chính trị, những điều kiện được coi là tiền đề cho những cải cách ở giai đoạn sau.
Liên quan đến chính sách sử dụng công thần trong giai đoạn đầu, nhiều sử gia nhận định, việc dùng đội ngũ hùng hậu các khai quốc công thần trong bộ máy nhà nước thời Lê Sơ cũng để lại nhiều hệ lụy. Một triều đại được tạo nên từ những công thần trong chiến tranh: “Nguyễn Chích giỏi tấn công, Lê Sát, Lê Ngân có tài diệt viện, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo có tài diệt đồn, Nguyễn Trãi giỏi tâm công, thu phục lòng người, giỏi địch vận…[4] mỗi người mỗi một thế mạnh khác nhau đã tạo nên sức mạnh trong diệt địch. Nhưng, khi hưởng thái bình, những danh tướng ấy đã nhiều khi không cùng nhau góp phần tạo nên được sức mạnh chung. Không ít người trong số đó đã mê mải hưởng lạc, tham lam, tự phụ, bị mê hoặc bởi quyền lực. Ngay năm 1429, khi cho văn võ đại thần nghị bàn công việc lớn của nhà nước, Lê Thái Tổ đã chỉ rằng: “Không có ai chịu hết lòng với việc nướcchỉ ham nghĩ phú quý mà thôi”. Nhiều đại thần ở các sảnh viện vừa bê trễ công việc vừa đua nhau huy động sức lính, của dân để xây dựng lâu đài, dinh thự cho mình: “Tể thần Lê Khuyến, Lê Sát thì dốt đặc. Chưởng binh như Lê Diên, Lê Luyện thì mù tịt, phường dốt đặc như ong nổi dậy, kẻ xiểm nịnh được nghe theo”.[5] Còn những người thẳng thắn, công tâm thì lại không được được sủng ái, thậm chí còn bị hàm oan với “mối hận ngàn thu” không chỉ cho riêng mình mà cho cả gia đình và dòng tộc như Nguyễn Trãi.
Như vậy, chính sách sử dụng công thần, mà có lẽ cũng không thể nào khác được, đã có những tác động không nhỏ tới tình hình chính trị cũng như chính sách quản lý đất nước trong giai đoạn đầu trị quốc. Chính sách này vừa có những tác động tích cực trong việc chuyển dịch sang nền quản trị có phần quan liêu và gần dân hơn nhưng cũng ảnh hưởng tiêu cực nên tình hình chính trị và chính sách quản lý đất nước ở giai đoạn đầu của nhà Hậu Lê. Điều này góp phần lý giải tại sao những thành tựu lớn về nhà nước và pháp luật trong tương quan với bảo vệ quyền con người chưa xuất hiện trong giai đoạn đầu Hậu Lê, và đó cũng là những nguyên nhân cho những cải tổ, những thành tựu lớn ở giai đoạn sau.
Về tình hình tổ chức chính quyền địa phương. Ngay từ khi đem quân ra đánh kinh thành Đông Đô, Lê Lợi đã chia nước làm 4 đạo. Năm 1428, Thái Tổ chia lại nước làm 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc (tương ứng với Bắc bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hoá vào đến Thuận Hoá). Dưới đạo là trấn, lộ, huyện, châu. Đơn vị hành chính cơ sở là xã.
Về mặt tổ chức chính quyền, bộ máy nhà nước, ở giai đoạn đầu, Lê Thái Tổ chấn chỉnh lại bộ máy nhà nước theo mô hình thời Trần. Dưới vua có hai chức Tả, Hữu tướng quốc, 3 chức Tư, 3 chức Thái, 3 chức Thiếu, Bộc xạ v.v...giúp việc bàn bạc, quyết định những công việc quan trọng của triều đình. Tiếp đến là hai ban văn, võ. Văn ban do Đại Hành khiển đứng đầu, phụ trách chung mọi việc. Sau đó là hai bộ: Bộ Lại và Bộ Lễ do Thượng thư đứng đầu, các cơ quan chuyên trách như Khu mật viện, Hàn Lâm viện, Ngũ Hình viện, Ngự sử đài, Quốc tử giám, Quốc sử viện, Nội thị sảnh, các quán, cục, ti. Võ ban thì có các chức: Đại Tổng quản, Đại đô đốc, Đô Tổng quản, Tổng quản, Tổng binh, Tư mã v.v...đứng đầu 6 quân Điện tiền, 5 quân Thiết đột v.v...
Về chính sách đối ngoại, ở giai đoạn này chính sách đối ngoại của Hậu Lê thể hiện rất rõ tính nhất quán. Giao hảo và tôn trọng các nước lân bang, nhất là phương Bắc đồng thời khẳng định nền độc lập, tự chủ của quốc gia Đại Việt. Đối với phương Bắc, sau thất bại toàn diện trước nghĩa quân Lam Sơn và, đặc biệt, chứng kiến sự nhân đạo trong ứng xử của quân dân Đại Việt[6] nhà Minh đã thấy được sức mạnh và thiện chí của Hậu Lê nên lĩnh vực đối ngoại đã có những thành tựu đáng kể để đảm bảo hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Có thể thấy, ở giai đoạn đầu Lê Thái Tổ đã có nhiều chính sách để kiện toàn tổ chức quyền lực nhà nước. Nhưng do nhiều nguyên do khác nhau, mà trước hết phải kể đến chính sách trọng dụng công thần thời chiến đã làm cho tình hình chính trị của nhà Hậu Lê trong giai đoạn này có phần không yên ả, vì thế những chính sách trong quản lý đất nước, phát triển kinh tế chưa thật sự phát huy tác dụng.
Tuy nhiên, chính bối cảnh của Hậu Lê đầu triều đại như đã phân tích ở trên đã tạo nên những xúc tác, những tiền đề không nhỏ để có Lê Thánh Tông quyết tâm đi đến cùng những cải cách của mình để hoàn thiện và phát triển các thiết chế nhà nước và các định chế pháp luật như là nền tảng thúc đẩy, đảm bảo sự cường thịnh của quốc gia Đại Việt, sự hạnh phúc và no ấm của muôn dân.
2. Bối cảnh, tình hình chính trị và các chính sách quản lý đất nước từ Lê Thánh Tông đến cuối thời kỳ Lê Sơ.
Lê Tư Thành là con thứ tư của vua Lê Thái Tông cùng mẹ là bà Ngô Thị Ngọc Dao được các quan đón về và tôn lên làm Vua. Cùng những cải cách táo bạo của một trí tuệ vượt bậc và lòng nhân từ có được từ sự trải nghiệm cuộc sống, tình yêu thương vô bờ bến, sự dạy dỗ, giáo dục nghiêm túc từ người mẹ, sự ảnh hưởng từ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi..., Lê Thánh Tông đã đưa Đại Việt đạt đến điểm cực thịnh, tạo nên dấu son chói lọi, một giai đoạn phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, đồng thời làm nên một thời đại mà nhà nước và pháp luật trở nên “gần dân” hướng tới bảo vệ những quyền con người.
Bàn về tình hình chính trị và các chính sách trong quản lý đất nước của Lê Thánh Tông trước hết phải kể đến tư tưởng thiết lập mô hình trung ương tập quyền “hướng tâm”, được kiểm soát và vị dân.
Để lý giải cho việc tại sao Lê Thánh Tông lại thực thi chính sách tổ chức chính quyền theo mô hình nêu trên đã có rất nhiều những lập luận được đưa ra, trong đó có lẽ đáng chú ý hơn cả, theo quan điểm của tác giả, phải kể đến: 1) bài học từ lịch sử; 2) sự ảnh hưởng của các khai quốc công thần không còn quá lớn như các triều vua trước; 3) trí tuệ, sự cần mẫn, lòng nhân từ, thương dân và hiểu được sức dân của Lê Thánh Tông.
Lịch sử đã cho ông thấy, tính quý tộc của nhà Trần, sự mất lòng dân chúng của nhà Hồ cũng như lộng quyền và sự tranh giành quyền lực của các bậc tiền bối là nguy hiểm như thế nào đối với triều đại và xã tắc. Một trong những chính sách đầu tiên mà Lê Thánh Tông áp dụng để củng cố chính quyền cũng như quyền lực của mình đó là bãi bỏ chức quan đầu triều để tự mình lo triều chính.
 Trước đây, các vị vua thường phó thác, đặt niềm tin vào một vị quan đầu triều quán xuyến triều đình đó là Tể tướng. Việc này giúp vua giảm bớt gánh nặng trong công việc triều chính, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với quyền lực của nhà vua và bất ổn trong nội bộ. Ý thức được điều này Lê Thánh Tông đã bãi bỏ chức quan đầu triều và trực tiếp nắm giữ quyền hành. Bằng động thái này, ông đã trực tiếp làm việc với quan lại, xem xét và đánh gia năng lực của từng người để có thể tự mình lựa chọn những người ưu tú, có năng lực nhất giúp ông giải quyết công việc, chèo lái đất nước đi theo tư tưởng trị quốc của mình.
Một trong những quyết sách chính trị quan trọng hơn và có ý nghĩa lớn của Lê Thánh Tông đó là chính sách về quan chế - cải cách quan chế.
Xuất phát từ suy nghĩ “Trăm quan là nguồn gốc của trị loạn. Người có đức, có tài nhậm chức thì nước trị, dân yên. Người vô đức vô tài giữ chức thì nước loạn dân khổ”, vì vậy, trong suốt 38 năm cầm quyền Lê Thánh Tông luôn lưu tâm chọn những người có đức có tài. Để lựa chọn quan lại có đức có tài ông đã cải cách phương pháp tuyển chọn.
Nếu như trước đây, trong các triều đại trước hoặc các vua tiền nhiệm, cha truyền con nối vẫn là nguyên tắc được áp dụng triệt để trong chốn quan trường. Ý thức được đó là nguyên tắc cổ hủ, nhưng rất khó có thể bỏ ngay, ông đã chọn giải pháp dung hòa là thi hành chế độ “Tản quan”. Tản quan là chế độ mà ở đó các quan lại có xuất thân từ quý tộc, quan lại thì vẫn được bổ nhiệm làm quan, nhưng có chức mà không có quyền, có bổng lộc nhưng không được giao nhiệm vụ cụ thể. Chính sách này giúp ông tránh được những phản kháng, bất mãn từ hệ thống quan lại. Còn để tìm người tài phục vụ đất nước, trước hết ông mở chế độ thi tuyển quan lại để chọn những người vừa có tài và có đức để phục vụ đất nước.
Theo “Dụ Hiệu định quan chế” các chức vụ được bổ nhiệm vào làm quan đều phải là những người đỗ đạt trong các kỳ thi. Tất cả mọi người đều có quyền dự thi không kể nguồn gốc xuất thân. Lệ thi cử gồm ba kỳ: thi Hương, thi Hội, thi Đình. Mỗi kỳ thi thí sinh phải thi bốn trường: Thi kinh nghĩa; Thi pháp luật; Thi làm thơ phú; Thi văn sách.[7]
Về quy chế thi cử, theo sử sách ghi chép lại, thì vua Lê Thánh Tông rất lưu tâm và đặt ra các lệ rất nghiêm. Bởi hơn ai hết ông hiểu rằng, nếu không có chế độ thi cử nghiêm ngặt để có thể chọn đúng người tài, thì thi cử chỉ còn là hình thức, là nơi người ta mua bán “vé” để vào làm quan. Chẳng hạn, “các quan chủ ty chấm thi cùng người dự thi có thân thuộc phải hồi tị, nếu không tự nguyện thì đánh 50 roi và biếm một tư…” hoặc “vào thi Hội mà mượn người làm hộ bài thi  thì người làm hộ và người đi thi đều bị biếm ba tư. Người dấu sách, vở đem vào trường thì phải phạt 80 trượng…”.[8] Năm 1484, Lê Thánh tông ban lệnh: “Từ nay trở đi, các xứ khảo thi cốt phải lấy người biết chữ, văn hay. Đến khi phúc hạch mà còn có kẻ bỏ quyển trắng hay bất thành văn lý thì cho các quan trường thi niêm phong, đàn hặc lên trên. Nếu từ một đến bốn, năm người trở lên thì quan Thừa, Hiến phải bị xử biếm hay bãi chức, bản thân người ấy bị xử tội đồ làm quân binh”.[9]
Thi cử được coi là phương thức hữu hiệu nhất thời Lê Thánh Tông. Trước ông thi cử đã được tiến hành ở Triều Lý, Triều Trần và ngay cả thời các vị vua nhà Hậu Lê tiền nhiệm, nhưng chỉ dưới thời Lê Thánh Tông mới được tổ chức bài bản và đều đặn nhất.
Ngoài thi cử chọn người tài, Lê Thánh Tông còn cho triển khai phương pháp bảo cử. Bản chất của bảo cử là những người đương chức đương quyền có nghĩa vụ tìm người tài đức để tiến cử ra làm quan. Bởi ông cho rằng các kỳ thi cách nhau quá xa, có nhiều người thiếu may mắn hoặc do hoàn cảnh… mặc dù rất có tài, nên áp dụng bảo cử để triệt để sử dụng hết người tài trong xã hội. Đây không phải là cơ hội để các quan giới thiệu người nhà hoặc lợi dụng tham ô, mà đây là nghĩa vụ phải tìm người tài thật sự khi có chức vụ đang bị khuyết. Người được giới thiệu phải được kiểm tra ngặt nghèo và sau khi làm quan rồi còn phải bị sát hạch rất nghiêm. Năm 1482 Lê Thánh Tông ban lệnh: “Thừa ty các xứ, chức vụ rất trọng. Khi chọn bổ nên được nhiều người hài lòng. Từ nay quan Thừa ty các xứ có khuyết, bộ Lại tâu lên rồi đưa xuống triều thần, tức là các quan ở chính đường, theo như lệ bảo cử hai ty Đô, Hiến. Nếu xét ai đương được chức thì giao cho Lại bộ thi hành”.[10]
Ngoài bảo cử, Lê Thánh Tông còn thực thi lệ tập ấm. Tập ấm là việc nhà vua cho phép con cháu đích tôn của các vị Công, Hầu, Bá, Tử, Nam, con trưởng của các quan văn, quan võ từ nhất phẩm đến bát phẩm nếu học hành tử tế, có tri thức có phẩm hạnh thì được ra làm quan để phục vụ đất nước. Điều đặc biệt ở thời Lê Thánh Tông là họ không thể cậy chức, cậy quyền, cậy thân, cậy thế để bước bào con đường hoan lộ. Để được làm quan thì ngoài xuất thân, họ phải hội tụ đủ các tiêu chuẩn cho chức vụ đó thì mới được làm quan.
Cùng với những cách tân về cách thức tuyển dụng quan lại, Lê Thánh Tông cũng rất quan tâm đến việc kiểm tra, giám sát quan lại.
Theo lệ, cứ ba năm một lần, các quan văn, võ đương chức từ nhất phẩm đến cửu phẩm đều phải trải qua kỳ khảo thi và không có ngoại lệ. Sử sách ghi lại là dù Lương Thế Vinh là người có tài đỗ Trạng Nguyên, nhưng đến kỳ khảo thi vua vẫn cho gọi vào thi kiểm tra như tất cả mọi người.[11]
Nếu khảo thi là biện pháp kiểm tra trình độ quan lại, thì khảo khóa được Lê Thánh Tông áp dụng như là phương thức hữu hiệu để xem xét khả năng thực hành của quan lại trong công việc. Khảo khóa được thực hiện ở hai giai đoạn: sơ khảo và thông khảo.
Sơ khảo là quá trình quan trên kiểm tra năng lực của quan thuộc cấp của mình. Việc kiểm tra phải được tiến hành ba năm một lần và dựa vào các tiêu chí như: cho chăm sóc dân tốt không, được dân yêu mến không hay có nhiều người trong địa phận quản lý của mình lưu vong không? Nếu được dân yêu mến, ít người lưu vong thì được cho là xứng chức và cho tiếp tục giữ chức, con không thì giáng chức. Mỗi quan lại đều phải trải qua ba lần khảo khóa nghĩa là chín năm. Lệ thông khảo là lệ kiểm tra quan lại sau khi đã trải qua ba lần sơ khảo. Đây là đợt khảo khóa quy mô và có sự tham gia của Lại bộ.
Như vậy, ngoài việc đổi mới cách tuyển dụng người tài, Lê Thánh Tông còn thay đổi cả cách kiểm tra quan lại trong thực thi công vụ. Những lệnh ông ban ra không chỉ là hình thức mà nhất nhất phải được thi hành trên thực tiễn. Chẳng hạn, vào năm 1471, Lê Thánh Tông ban hành một lệnh để đảm bảo việc sử dụng đúng người: “… Người mới được giao chức thì được bổ thí chức, Lại bộ tâu lên để ban cấp cho giấy khám hợp, cho mũ, đai và cấp cho một phần ba tiền lương, con cháu vẫn như dân thường. Sau ba năm mà xứng chức và không phạm lỗi gì thì được thăng cấp cho thực thụ. Người nào không xứng chức thì đuổi về…”[12]
Thời đại Lê Thánh Tông còn ghi dấu ấn trong chính sách tổ chức bộ máy nhà nước. Trong thời gian trị vì của ông bộ máy nhà nước đã được cải cách để đạt đến sự hoàn thiện của mô hình nhà nước phong kiến tập quyền hướng tâm.
Song song với việc bãi bỏ chức Tể tướng để tập trung quyền lực vào tay vua nhằm trực tiếp điều hành chính sự, chọn người thực tài phục vụ sự nghiệp đổi mới, Lê Thánh Tông còn phân định chức vụ và thành lập nhiều cơ quan với những chức năng khác nhau được phân định rõ ràng.
Nếu như trước đây các cơ quan chức năng trong bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương chưa được kiện toàn thì đến năm 1466 (Tức là năm Quang Thuận thứ 7) ông đã cho lập ra 6 bộ với những quy định rõ ràng về chức năng nhiệm vụ.
Như vậy, có thể nói ngoài việc lập thêm các bộ mới so với triều Trần và các vị vua tiền nhiệm, như nhận xét của Lê Đức Tiết, còn mở rộng quyền hạn cho các bộ có trước. Theo ông, điều này chứng tỏ Lê Thánh Tông rất coi trọng ba việc lớn: 1) Đào tạo hiền tài; 2) Xây dựng để kiến thiết, mở mang, phát triển kinh tế và phòng thủ đất nước; 3) Lập lại kỷ cương phép nước.[13] Thiết nghĩ, ngoài việc đó ra, việc phân định rõ ràng các chức năng nhiệm vụ, lập thêm hai bộ mới thể hiện tầm nhìn chiến lược của ông trong xác định rõ vị trí việc làm, đảm bảo phân công phân nhiệm để có cơ chế khen thưởng kỷ luật nghiêm minh. Cùng với đó, chứng tỏ ông đã rất trăn trở và thấu hiểu những việc cần thiết và quan trọng trong nhiệm vụ trị vì của mình. Đó là đạo đức làm vua của ông!
Như là một chuyên gia lớn trong quản trị công, Lê Thánh Tông đã có một tư duy đột phá – quyền lực phải được kiểm soát. Nói là đột phá bởi vì trong thời đại của nhà nước phong kiến tập quyền mấy ai có được tư duy như ông. Có lẽ ông thấu hiểu được bản chất của quyền lực là có khả năng làm người nắm giữ nó tha hóa nếu không có cơ chế kiểm soát, giám sát. Minh chứng chứng cho điều này là việc bên cạnh Lục Bộ ông lập ra Lục Khoa để kiểm tra giám sát hoạt động của các bộ nêu trên.
Sáu khoa với chức năng chủ yếu là giám sát hoạt động của 6 bộ được ông mô tả trong Dụ Hiệu định quan chế rằng : “… gọi lính lấy quân là việc của Đốc phủ mà Bộ Binh phải nắm chung; chi ra thu vào là công việc của Bộ Hộ mà Hộ Khoa phải giúp đỡ. Bộ lại thăng, bổ nhầm người thì Lại Khoa có quyền bác bỏ. Bộ Lễ thực thi nghi lễ không hợp lệ thì Lễ Khoa có quyền hặc tâu. Hình Khoa xem xét công việc xử án của Bộ Hình phải trái như thế nào. Công Khoa kiểm điểm Bộ Công làm tốt hay lười biếng…”.
Ngoài việc lập ra Lục Bộ, Lục Khoa, Lê Thánh Tông còn lập ra Lục Tự với những chức năng cụ thể để vận hành bộ máy hành chính. Trong số các tự nêu trên thì việc lập Đại lý tự có thể coi là có bước đột phá và cách tân hơn cả. Đại Lý tự có nhiệm vụ xem xét lại những án nặng đã xử như án lưu và án tử. Khi xét xong thì chuyển lại sang Bộ Hình để tâu lên vua quyết định. Đây là cơ quan có khả năng kiểm tra lại cơ quan xét xử để đảm bảo không bị xét xử oan sai. Thực tế cho thấy, có những con người hết lòng, hết sức phụng sự triều đại, phụng sự nhân dân, nhưng do những bất đồng về chính trị đã bị xử oan sai để rồi không thể sửa chữa được. Từ vụ việc của Nguyễn Trãi và của Trần Nguyên Hãn thì việc lập ra Đại lý tự được cho là sáng suốt và cần thiết để bảo vệ thuộc cấp của mình, bảo vệ người ngay.
Ngoài việc lập Đại lý tự, ông còn cho lập hệ thống Ngự sử đài. Ngự sử đài được thành lập ở cả trung ương và cả ở các thừa tuyên với mục đích là tâu lên trên việc khuất tất cũng như những việc làm bậy của các quan đồng thời soi xét những ẩn khuất cho dân.
Cùng với việc hoàn thiện bộ máy hành chính ông còn kiện toàn tổ chức nhân sự cho các cơ quan cũng như quy định các phẩm, hàm cụ thể và mức lương tương ứng. Dưới thời Lê Thánh Tông tất cả quan lại được chia làm 9 phẩm (cửu phẩm). Mỗi phẩm đều có chánh phẩm và tòng phẩm.
Nhằm đảm bảo bộ máy nhà nước vận hành theo đúng tinh thần vị dân, Lê Thánh Tông không chỉ cải cách quan chế mà còn cải cách mối quan hệ giữa triều đình trung ương và địa phương.
Cùng với việc đặt lại cơ cấu chính quyền địa phương, Lê Thánh Tông cũng đã thay đổi lại hệ thống quan lại, nhất là ở các thừa tuyên.
Ở các thừa tuyên, Lê Thánh Tông đặt bộ máy gồm ba ty: Đô tổng binh sứ ty (hay còn gọi là Đô ty) phụ trách quân đội, giữ gìn an ninh trật tự, Thừa tuyên sứ ty (gọi là Thừa ty) phụ trách các việc hành chính, hộ tịch, thuế khóa và Hiến sát sứ ty (gọi là Hiến ty) phụ trách việc thanh tra quan lại trong thừa tuyên cũng như việc xử án, thi hành pháp luật. Điều đặc biệt là, ba ty này hoạt động tương đối độc lập và phụ trách theo mảng mà không có ty nào đứng đầu thừa tuyên. Đây là cách để ngăn ngừa xu hướng cát cứ trong tổ chức chính quyền địa phương.
Như vậy, ở cấp chính quyền địa phương cao nhất Vua Lê Thánh Tông đã thiết lập cơ chế phân công, tản quyền và phân trách nhiệm hợp lý. Việc lập ra ba chức quan phụ trách ba mảng ở thừa tuyên mà không có người đứng đầu một thừa tuyên chứng tỏ vua Lê Thánh Tông đã có chủ ý ngăn ngừa sự phân quyền cát cứ - điều mà rất dễ xảy khi khi quyền lực địa phương được giao cho một người. Ngoài ra, việc phân theo chức năng khiến cho các quan lại tự giám sát lẫn nhau để quyền lực được kiểm soát. Mỗi người một nhiệm vụ, một lĩnh vực hạn chế sự chuyên quyền độc đoán nhưng vẫn đảm bảo có người chịu trách nhiệm chính trong mảng công việc được giao.
Ở miền thượng du, các bản mường vẫn được giao cho tù trưởng, lang đạo cai quản như cũ. Đối với vùng biên giới phía bắc, nhà Lê cử thêm một số tướng giỏi người miền xuôi lên trấn trị và biến thành “phiên thần”, đời đời nối nhau cai quản địa phương.
Có thể thấy, trong chính sách của Lê Thánh Tông là bảo đảm sự thống nhất trong chính quyền từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa phương, “các chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng gìn giữ nhau, lẽ phải của nước không bị chuyên riêng, việc lớn của nước không đến lung lay, khiến có thói tốt làm hợp đạo, đúng phép” (Dụ Hiệu định quan chế). Với quan điểm “uy quyền khó lạm thế nước khó lay”, có “phong cách giữ gìn đạo pháp thì không tội lỗi trái nghĩa phạm tình” và không chỉ nói suông, ông đã đặt ra hàng loạt những quy định cụ thể và triển khai chúng một cách nghiêm túc.
Như vậy, có thể thấy, trong tổ chức quyền lực nhà nước, chính sách nhất quán của Lê Thánh Tông là “Trung ương tập quyền hướng tâm”. Có thể thấy đây là tư tưởng chủ đạo trong tổ chức nhà nước và quản lý xã hội của ông. Với Lê Thánh Tông, ông không chỉ thực thi chính sách trung ương tập quyền mà tập quyền ở cấp độ cao hơn mà tác giả mạn phép gọi là tập quyền hướng tâm. Thiết nghĩ, Trung ương tập quyền có thể tạo nên chính quyền trung ương mạnh hay một triều đình mạnh, nhưng chưa chắc đã có tập trung quyền lực vào tay nhà vua. Trong mọi chính sách của mình ông đều hướng đến tập trung quyền lực vào tay nhà vua và tạo cơ chế để ông có thể kiểm soát được quyền lực. Tuy nhiên, cái khác của Lê Thánh Tông là ở chỗ, ông tập trung quyền lực vào tay mình và kiểm soát quyền lực chỉ với mục đích cao nhất là đảm bảo sự thịnh vượng của quốc gia Đại Việt và vì hạnh phúc của muôn dân, bảo vệ quyền lợi chính đánh của người dân. Với ông, chỉ khi quyền lực được kiểm soát, được phân nhiệm rõ ràng thì những chính sách vì dân của ông mới được đảm bảo thực thi.
   3. Bối cảnh, tình hình chính trị, chính sách quản lý đất nước thời Lê Trung Hưng
Lê Trung Hưng (1533 - 1788) là thời kỳ gắn liền với sự phục hồi vương triều nhà Hậu Lê sau những biến cố chính trị gắn liền với sự xuất hiện của Mạc Đăng Dung.
Sau khi Lê Thánh Tông mất, từ thời Lê Uy Mục và Lê Tương Dực chính sự nhà Hậu Lê bắt đầu suy yếu, nội bộ lục đục, tranh chấp quyền lực nổ ra. Tranh thủ sự lục đục nội bộ, tranh giành quyền lực giữa các phe phái và sự kém cỏi nhưng sa đọa của các vị vua, võ tướng Mạc Đăng Dung đứng ra dẹp loạn và dần trở thành người thực tế nắm giữ binh quyền. Đến năm 1527 Mạc Đăng Dung phế  truất Lê Cung Hoàng và lập ra nhà Mạc, chấm dứt thời kỳ Lê Sơ tồn tại trong suốt 100 năm.
Việc phế truất Vua Lê đã làm cho nhà Mạc không có được tính chính danh và sự thừa nhận rộng rãi của dân chúng, đặc biệt trong bối cảnh tư tưởng Nho giáo đã ăn sâu và bám chặt gốc rễ vào mọi ngóc ngách của xã hội, cũng như do nhân dân còn lưu luyến ánh hào quang của thời kỳ hoàng kim thời Lê Sơ để lại. Vì vậy, ngay sau khi triều Mạc được lập ra, một tướng nhà Hậu Lê là Nguyễn Kim đã chạy vào Thanh Hóa rồi sau đó sang Ai Lao và vào năm 1533 đã lập Lê Duy Ninh lên làm vua kế tiếp triều đại nhà Hậu Lê (người được coi là con của vua Lê Chiêu Tông) và bắt đầu thời kỳ mới mà lịch sử gọi là thời kỳ Lê Trung Hưng.
Về tình hình chính trị thời kỳ Lê Trung Hưng có thể khái quát ở những điểm sau:
-         Thời kỳ Lê Trung Hưng là thời kỳ đất nước và hệ thống chính trị bị chia cắt. Thời kỳ này có thể được chia làm hai giai đoạn cơ bản:
+ Giai đoạn Nam Triều – Bắc Triều (Từ 1533-1592). Đây là giai đoạn bắt nguồn từ năm 1527 sau khi Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê lập ra nhà Mạc đến năm 1533 khi Nguyễn Kim lập con của vua Lê là Lê Duy Ninh lên làm vua và hình thành hai thế lực đối kháng: Bắc triều và Nam triều. Bắc triều là triều đại của nhà Mạc cai quản vùng đất Bắc Bộ, còn Nam triều là triều đại nhà Hậu Lê (thực chất là do Nguyễn Kim dựng lên, sau này họ Trịnh kế tục) cải quản vùng đất từ Thanh Hóa trở vào. Giai đoạn này chấm dứt khi quân nhà Mạc bị quân Lê-Trịnh (Nam triều) đánh bại vào cuối năm 1592 và phải rút lên Cao Bằng (tồn tại cho đến tận năm 1677).
+ Giai đoạn Đàng Trong – Đàng Ngoài (1600-1788). Đây là giai đoạn đất nước lại tiếp tục bị chia cắt mặc dù Bắc Triều về cơ bản đã bị tiêu diệt. Trong giai đoạn chiến tranh Lê-Mạc, cả họ Trịnh và họ Nguyễn đều lấy danh nghĩa “phò Lê diệt Mạc”, tuy nhiên, sau khi đã diệt được họ Mạc, về chính trị, ở Đại Việt hình thành hai thế lực phân tranh là Vua Lê Chúa Trịnh ở Bắc sông Gianh (còn gọi là Đàng Ngoài) và ở miền Nam sông Gianh (Đàng Trong) chúa Nguyễn cai quản cũng mang danh nghĩa phò vua Lê. Ở mỗi Đàng đều có tổ chức chính quyền riêng, quân đội riêng.
- Thời kỳ chính trị với thể chế lưỡng đầu trị.
Lưỡng đầu trị và một hình thức tương đối đặc biệt của thời kỳ này trong lịch sử phát triển của nhà nước phong kiến Việt Nam. Năm 1600 Trịnh Tùng với công lao đánh bại nhà Mạc và phục hưng nhà Hậu Lê nên được xác lập ngôi “Chúa”, có quyền lập phủ riêng và có quyền thế tập. Tương tự như vậy, ở Đàng Trong sau đó địa vị chúa cũng được xác lập.
Việc xác lập địa vị chúa cũng như việc có quyền lập “Phủ” và truyền ngôi thế tập đã tạo nên một hệ thống chính trị lưỡng đầu trị. Bởi bên cạnh vua Lê (được coi là bù nhìn) và “Cung Vua” còn tồn tại Chúa và “Phủ Chúa”. Quan trọng hơn là trên thực tế phủ Chúa mới là trung tâm điều hành và quản lý đất nước. Từ thời Chúa Trịnh Tùng cùng với những cải cách của mình như đặt thêm các chức Tham tụng, Bồi tụng hay sau này là đặt ra các Phiên tương đương với các Bộ đã làm cho quyền lực của Phủ Chúa ngày càng được khẳng định và lấn át Cung Vua.[14]
-         Tình hình chính trị luôn bất ổn.
Với việc xác lập hai trung tâm chính trị là Đàng Trong và Đàng Ngoài lại cùng chung nhân danh phò tá nhà Lê nên tình hình chính trị ở Đại Việt giai đoạn này tương đối bất ổn. Suốt thời kỳ dài, tùy những giai đoạn mạnh yếu khác nhau hai bên luôn có những cuộc can thiệp, xâm lấn gây chiến nhằm thâu tóm quyền lực. Bắt đầu từ những năm 1627 khi họ Trịnh xua quân đánh họ Nguyễn đến khi Nguyễn Huệ thống nhất giang sơn đất nước luôn chìm trong những cuộc chiến nội bộ mà lịch sử gọi là giai đoạn “Trịnh – Nguyễn phân tranh”.
Ngoài ra, do sự lộng hành của Phủ Chúa, nhất là ở Đàng Ngoài, tình hình chính trị cũng không mấy yên ả. Có lẽ yên ả nhất là thời Lê Hiển Tông, khi mà nhà vua đã quyết định “rủ áo, khoanh tay” để mặc cho chúa Trịnh lo toan việc nước.[15] Sự không yên ả chính trị bắt nguồn từ những việc phế ép vua hay thái tử bởi các chúa, nổi bật như thời chúa Trịnh Giang, Trịnh Doanh và Trịnh Sâm. Những việc làm này không chỉ gây bất mãn trong triều đình, nhà vua mà còn cả trong phủ chúa. Vụ án Canh Tý (9/1780) là một trong những ví dụ điển hình về sự bất ổn chính trị trong giai đoạn này.
Không chỉ bất ổn trong triều đình mà sự bất ổn còn thể hiện ở việc ở giai đoạn này xuất hiện phong trào khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài[16] mà nguyên nhân chủ yếu đến từ sự bất mãn với sự lộng quyền của Phủ Chúa cũng như tình cảnh đất nước chia cắt, loạn lạc.
Như vậy, có thể thấy, thời kỳ Lê Trung Hưng là thời kỳ về cơ bản có bối cảnh chính trị đặc biệt với sự bất ổn, phân tranh và thể chế lưỡng đầu trị. Tình hình chính trị ấy đã phần nào lý giải cho việc không có nhiều những thiết chế, những cải cách, những thay đổi trong bộ máy nhà nước mà nội dung của nó hướng đến bảo vệ quyền con người. Lịch sử cũng đã chỉ rõ, chỉ có ổn định chính trị mới có thể có những quyết sách hướng đến bảo vệ quyền lợi của người dân. Ở thời kỳ Lê Trung Hưng, duy có một thời kỳ “ổn định” miễn cưỡng, do sự “rũ áo, khoanh tay” của vua Lê đã phần nào góp phần làm nên một Quốc Triều khám tụng điều lệ (Đời Vua Cảnh Hưng) với nhiều nội dung chứa đựng tính nhân văn, vị con người và cũng là văn bản nối tiếp tư tưởng của Lê Thánh Tông cùng Quốc triều Hình luật.
  4. Bối cảnh, tình hình tư tưởng thời Hậu Lê
Tìm hiểu về việc bảo đảm quyền con người trong việc xây dựng, thực thi pháp luật và tổ chức quyền lực thời Hậu Lê không thể không tìm hiểu đến tình hình tư tưởng của triều đại. Thực tế, tư tưởng chính là nền tảng hay nói một cách khác là bệ đỡ cho những chính sách của triều Hậu Lê. Chính vì vậy, hiểu được một cách khái quát tình hình tư tưởng của thời kỳ này, cho phép chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn trong quá trình lý giải những chính sách liên quan đến bảo bảm quyền con người của triều đại Hậu Lê trong lịch sử. 
Nếu ở các triều đại Lý, Trần, Phật giáo là hệ tư tưởng chính thống trong xã hội, thì trong triều Hậu Lê, Nho giáo đã trở thành tư tưởng chính trị chính thống, bệ đỡ cho công cuộc tổ chức quyền lực và quản lý xã hội. Đây được coi là thời kỳ triệt để thực thi tư tưởng hay chính sách trọng Nho.
Vào thế kỷ thứ XV, từ khi bắt đầu thiết lập nhà nước trung ương tập quyền, các vua Lê đã từng bước xây dựng một quốc gia độc lập trên nền của hệ tư tưởng Nho giáo. Tư tưởng Nho giáo được thể hiện rõ nét ở nhiều điều luật, điển chế như Quốc triều hình luật (Bộ Luật Hồng Đức), Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức thiện chính thư, 24 điều Huấn dân đại cáo của Lê Thánh Tông. Đến thế kỷ XVII, đời vua Lê Huyền Tông, chúa Trịnh Tạc tiếp tục ban bố 47 điều giáo hóa theo kinh điển Nho gia...
Có thể nói, Nho giáo thời Lê chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Tống Nho. Đây là học thuyết chính trị xã hội, là hệ thống giáo lý về đạo đức nhằm tổ chức xã hội theo quan điểm “Lễ trị”. Thời kỳ này, Nho giáo đã trở thành yếu tố chủ đạo trong đời sống tư tưởng của người Việt, với các quan niệm về nhân, lễ, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, hiếu... nó giữ vị trí độc tôn về mặt tư tưởng trong quản lý nhà nước và xã hội thời Hậu Lê.
Dưới thời vua Lê Thánh Tông với 38 năm trị vì tư tưởng Nho giáo đã ăn sâu, bám chặt gốc rễ vào tư tưởng của bộ máy quan lại và nghiễm nhiên trở thành tư tưởng trị quốc và đạt đến cực thịnh.
Điều đó thể hiện ngay trong việc trọng dụng kẻ sĩ, những người đỗ đạt vào làm quan. Hệ thống giáo dục, khoa cử triều Lê, nhất là triều đại Lê Thánh Tông đều được thực hiện một cách triệt để và đều đặn nhằm phát triển hệ tư tưởng Nho giáo. Các tiến sĩ Nho học bắt đầu được gọi là “hiền tài” là “nguyên khí” của quốc gia và cho khắc bia ở Văn Miếu-Quốc Tử giám, nơi thờ Khổng Tử và cũng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Cần phải nói thêm rằng, chính quyền Lê Sơ mà tiêu biểu là triều Lê Thánh Tông rất chú trọng đến chuyển tải giáo lý Nho giáo xuống đến tận cơ. Ngay sau khi lên nắm quyền Lê Thánh Tông đã cho ban bố 24 điều Huấn dân đại cáo để giảng dạy, tuyên truyền trong dân mà cốt yếu của nó là tư tưởng Nho giáo. Không chỉ thể, trong những cải cách ở làng xã, ông đã khéo léo để cho những kẻ sĩ được làm xã trưởng thông qua những tiêu chí bầu cử có phần rất “dân chủ” của mình.[17]
Như vậy, ngoài việc thiết lập bộ máy quan lại từ các trường học Nho giáo, các quan điểm Nho giáo còn được truyền tải xuống đến từng ngóc ngách của làng xã, từng gia đình để trở thành giáo lý thiết lập kỷ cương xã hội. Hơn thế nữa, hệ thống pháp luật mà điển hình là Bộ luật Hồng Đức cũng đã thể hiện rất rõ tư tưởng này.[18] Không còn nghi ngờ gì nữa một tư tưởng chính trị chủ đạo làm rường cột để trị quốc an dân đã được các vua Lê, nhất là các của Lê Sơ (mà đỉnh điểm là Lê Thánh Tông) sử  dụng đó là tư tưởng Nho giáo.
Tuy nhiên, mặc dù chịu ảnh hưởng của Tống Nho, Nho giáo như là tư tưởng chủ đạo, chính thống trong tổ chức nhà nước và quản lý xã hội thời Hậu Lê đã có những ảnh hưởng và chịu sự chi phối của văn hóa, truyền thống dân tộc, tư tưởng nhân nghĩa, vị dân của nhiều nhà tư tưởng như Nguyễn Trãi, Phan Phu Tiên… Chính điều này, đã làm cho Nho giáo thời Hậu Lê trở nên nhân văn và vị dân hơn rất nhiều so với những quy định có phần khô cứng, áp đặt, thống trị của Tống Nho bên Trung Quốc.
Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa, an dân, chủ nghĩa dân tộc trong sáng, hòa hiếu của Nguyễn Trãi đã có ảnh hưởng không nhỏ đến cả thời đại nhà Hậu Lê. Tư tưởng của Nguyễn Trãi được tiếp nối từ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với vị thế quân sư, nhà tư tưởng của nghĩa quân đến sự cưu mang và ân nghĩa của ông với Lê Tư Thành và bà Ngô Thị Ngọc Dao thuở hàn vi đã ảnh hưởng không nhỏ nên chính sách trị quốc của Lê Thánh Tông sau này. Về tư tưởng của Lê Thánh Tông có thể xem cụ thể phần 1.2. trong sách chuyên khảo này.
Như đã nói ở trên, mặc dù Phật giáo trong thời kỳ này bị đẩy lùi xuống cấp làng xã, nhưng với vai trò đặc biệt của làng xã trong văn hóa Việt Nam, sự ảnh hưởng của Phật giáo với những tư tưởng khoan dung, độ lượng, từ bi hỉ xả,… của Phật giáo vẫn có những ảnh hưởng không nhỏ lên việc thiết lập, thực thi các chính sách của triều đại nhà Hậu Lê.
Cùng với các tư tưởng, phép tắc tôn giáo, văn hóa, truyền thống, tập tục của người Việt cũng có những tác động không nhỏ đối với xã hội đương thời. Không chỉ làng xã mà cả những quy tắc sinh hoạt làng xã cũng đã được nhà Hậu Lê để ý và coi trọng. Thời Lê Thánh Tông với trí tuệ siêu việt của một nhà quản lý có tầm vóc, ông đã nhìn nhận thấy vai trò quan trọng của quy tắc tập tục cổ truyền của làng xã. Những thói quen trong sinh hoạt làng xã đã được ông khuyến khích để lập nên các hương ước. Và chính các hương ước đó góp phần không nhỏ trong việc nói lên tiếng nói của nhân dân, ghi nhận và bảo vệ quyền lợi của người dân, qua đó, phần nào tác động lên những chính sách và cách thức quản lý xã hội của triều Hậu Lê.
    5. Bối cảnh, tình hình chung và chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội triều Hậu Lê
   a) Các chính sách, tình hình kinh tế thời kỳ Hậu Lê
Dưới ách đô hộ của giặc Minh và cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trong 10 năm đã tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế đất nước vốn đã suy yếu trong những thập kỉ cuối Trần cũng như trong thời gian tồn tại của nhà Hồ. Khắp nơi đồng ruộng hoang hóa, làng xóm điêu tàn, người dân đói khổ phiêu tán tứ xứ. Thủ công, thương nghiệp suy sụp, sản xuất đình đốn.
Vì vậy, sau khi đất nước được độc lập, triều đại mới thiết lập, trước hết và trên hết Triều Lê là bắt tay vào khôi phục sản xuất đảm bảo cơ sở vật chất cho xã hội. Việc đầu tiên cần phải làm để ổn định tình hình kinh tế là chấn hưng nền sản xuất nông nghiệp bởi dưới chế độ phong kiến nông nghiệp luôn được coi là nền tảng của xã hội là phương thức sản xuất chủ yếu.
Để đảm bảo sản xuất nông nghiệp, đầu tiên phải giải quyết vấn đề về ruộng đất.
Sau giải phóng, Nhà Lê, một mặt thực hiện lời hứa cho 25 vạn quân về làm ruộng, lấy lại ruộng đất cũ của mình để sản xuất, làm ăn, mặt khác kêu gọi nhân dân phiêu tán trở về quê cũ, cùng nhau xây dựng lại xóm làng, phát triển lại nghề nghiệp. Tất cả ruộng đất dưới thời vua Lê Thái Tổ được chia làm ba loại: Ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước, của làng xã và tư hữu ruộng đất.
 Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước được hình thành từ các nguồn như tịch thu được từ chính quyền đô hộ và bọn tay sai, ruộng đất không chủ, khai khẩn. Tất cả ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước hoặc do nhà nước trực tiếp quản lý (công điền, công thổ) và cấp cho các quan lại, cho nông dân hoặc cho các tội phạm cầy cấy, khai thác hoặc phong thưởng cho quan lại có công theo chính sách  lộc điền. Dưới thời Vua Lê Thánh Tông quan lại từ tam, tứ phẩm trở lên cho đến các vương, hầu, bá được cấp một số ruộng tuỳ chức tước. Lộc điền chia làm hai loại: Loại cấp vĩnh viễn gọi là ruộng thế nghiệp chủ yếu dành cho các vương hầu, công chúa, loại cấp một đời gọi là ruộng ân tứ (15-130 mẫu cho quan từ 1-4 phẩm). Lộc điền chỉ cấp cho quan chức từ tứ phẩm trở lên. Các chức thấp hơn chỉ được hưởng phần ruộng công ở làng theo chế độ quân điền. Sau khi viên quan được cấp chết 3 năm thì nhà nước thu lại đất đó.
Ngoài ruộng công điền, ruộng giao theo chế độ lộc điền, trong sở hữu của nhà nước còn ruộng loại đồn điền. Loại đồn điền là ruộng đất do nhà nước tổ chức khai hoang thành lập. Lúc đầu là lập các đồn theo kiểu trại lính để khai khẩn đất hoang sau đó đưa người bị tội lưu, tội đồ, nông dân phiêu bạt đến để phát quang, cầy cấy.
Bên cạnh ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước còn có ruộng đất thuộc sở hữu của làng xã. Ruộng đất làng xã có nguồn gốc từ xa xưa, được duy trì cho đến thế kỉ XV ở các làng xã nhưng với tỉ lệ khác nhau. Từ thời Lê Thái Tổ, nhà nước đã đặt vấn đề phân chia ruộng đất công làng xã cho dân làng ít hoặc không ruộng đất, quân lính. Để thống nhất việc phân chia ruộng công trong phạm vi cả nước, Lê Thánh Tông thực hiện chính sách quân điền - ban hành phép quân điền. Theo phép quân điền, cứ 6 năm ruộng công làng xã được chia lại một lần cho các thành viên trong xã bao gồm các quan chức cấp thấp (từ ngũ phẩm trở xuống), chức dịch của làng, quân lính, dân đinh, vợ các quan, phụ nữ goá chồng, trẻ mồ côi. Các quan phủ huyện có nhiệm vụ phối hợp với các xã trưởng, già làng đo đạc ruộng đất, tính số người được chia và thực hiện việc phân chia ruộng đất làng xã. Phép quân điền vừa giúp cho mọi người dân nông thôn có mảnh đất cày cấy, sinh sống vừa giúp cho nhà nước thu thuế, lấy lao dịch, lấy lính và nuôi lính. Như vậy, dưới thời vua Lê Thánh Tông với việc triển khai mạnh mẽ chế độ quân điền thì ruộng đất làng xã cũng đã được quản lý và phân phối như là ruộng đất của nhà nước.
Ruộng đất tư hữu như là một hình thức sở hữu tồn tại từ trước và đến triều Hậu Lê nó vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. Ruộng đất thuộc sở hữu tư dưới triều Lê, nhất là Triều Lê Thánh Tông được hình thành chủ yếu từ các nguồn như: giao dịch dân sự (mua bán, tặng cho giữa các cá nhân), ruộng đất thế nghiệp, ruộng đất được nhà nước cấp cho trong phần khai hoang. Ngoài việc công nhận đất tư, nhà Hậu Lê cũng có nhiều quy định bảo vệ sở hữu tư về ruộng đất như cấm quan lại chiếm đoạt ruộng đất của dân (Điều 370 BLHĐ), cấm việc tranh cướp, lấn chiếm ruộng đất đã có chủ, cấm bán ruộng đất của trẻ hay cấm con cái bán ruộng đất khi cha mẹ còn sống, cấm bán ruộng hương hỏa…
Về chính sách khuyến nông. Cùng với những cách tân về chế độ đối với ruộng đất, các vua Lê Sơ, nhất là Vua Lê Thánh Tông đặc biệt chú trọng đến phát triển nông nghiệp, chính sách khuyến nông. Lê Thánh Tông đã từng ban Dụ các quan Thừa ty, Hiến ty, phủ huyện: “Về các việc dân sự tầm thường như là đại hạn mà không đảo, nước lụt, mà không khơi, việc lợi không làm, việc hại không trừ, có tai dị mà không cầu đảo thì phải xử tội lưu”. Một chủ trương quan trọng của nhà nước được nhân dân hưởng ứng là khai hoang, mở rộng diện tích canh tác. Ngoài ra, về mặt quản lý nhà nước Vua Lê Thánh Tông đã đặt ra các cơ quan có trình đô chuyên môn sâu để chấn hưng nông nghiệp. Ông đặt ra các cơ quan mới như:
Sở tầm tang chuyên việc hướng dẫn dan chúng cách trồng dâu, nuôi tằm, kéo tơ dệt lụa;
Sở thực thái chuyên hướng dẫn dân chúng trồng rau, hoa màu;
Sở điền mục phụ trách giúp dân chúng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm;
Sở đồn điền chăm lo việc khai hoang, phục hóa.
Cùng với quản lý nhà nước, thành lập các cơ quan chuyên môn phát triển nông nghiệp, Nhà Lê còn rất chăm lo đến công tác thuỷ lợi, đê điều. Các thừa tuyên đều có chức quan hà đê chuyên phối hợp với các quan phủ, huyện trông nom, sửa đắp đê điều. Năm 1498, mỗi xã phải cử một xã trưởng chuyên trách việc đê điều và khuyến nông. Trường hợp đê vỡ, triều đình lập tức cử quan đi khám xét, huy động nhân dân, quân lính, học sinh Quốc tử giám đi sửa đắp, cứu hộ.
Việc đảm bảo cho công tác đê điều, thủy lợi còn được luật hóa để có chế tài răn đe. Ví như trong Điều 182 Bộ Luật Hồng Đức quy định “Việc giữ đê không vững vàng hoặc là quan giám đương không ra sức giữ gìn để cho nước lụt làm vỡ đê, làm mất hoa màu của dân thì quan lộ và quan giám đương bị xử biếm hai tư, bãi chức. Nếu những người tự mình đi giữ đê thì được giảm một bậc…” hoặc tại Điều 181 quy định “…Những con đê mới đắp, hạn trong ba tháng phải đắp xong. Quan lộ phải năng đến xem xét, quan coi đê phải đốc thúc hàng ngày. Nếu không cố gắng mà để quá hạn không xong thì quan lộ bị phạt, quan giám bị biếm… ”.
Ngoài ra, nhà nước còn quy định mọi công trình xây dựng cần điều động dân phu đều phải tiến hành ngoài thời vụ cày cấy, gặp mùa, “hễ công việc gì có hại cho nghề nông thì không được khinh động sức dân”. Pháp luật nhà Lê bảo vệ chặt chẽ sức kéo trong nông nghiệp. Tội ăn trộm trâu bò bị trừng phạt nặng. Năm 1489, Thánh Tông ra lệnh cấm giết trâu bò ban đêm.
Liên quan đến tình hình nông nghiệp thời kỳ Lê Trung Hưng do nước Đại Việt bị chia cắt từ đầu thế kỷ 17, nông nghiệp Đại Việt thời Lê trung hưng bao gồm tình hình nông nghiệp Đàng Ngoài và nông nghiệp Đàng Trong.
Ở Đàng Ngoài, do chiến tranh liên miên, Triều Đình không kiểm soát hết được các vùng đất nên tình hình nông nghiệp trở nên sa sút.
Do cần phải ưu tiên cấp nhiều đất cho binh lính để có lính phục vụ chiến tranh nên ruộng đất theo phép quân điền còn lại chia cho dân đinh giảm đáng kể. Chế độ lộc điền vẫn được áp dụng, tuy vậy cũng giảm hơn so với thời Lê. Càng về sau, do nhu cầu của chiến tranh, nhà nước bắt đầu thu thuế nông nghiệp triệt để, các ruộng thế nghiệp cũng bị thu thuế phục vụ nhà nước. Một điểm đáng lưu ý nữa là ruộng đất thời kỳ này của Đàng Ngoài dần dần bị tư hữu hóa và bị các thế lực quan lại địa chủ chiếm đoạt bằng cách mua lại hay bắt nợ từ dân. Tuy vậy, ở giai đoạn đầu tình hình sản xuất ở Đàng Ngoài, mặc dù so với thời kỳ Lê không bằng, nhưng vẫn được coi là tạm ổn bởi chính sách khai hóa ruộng đất cùng với việc đẩy mạnh xen canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp. Càng về sau, tình hình sản xuất càng đình trệ, chính sách thuế má hà khắc, người nông dân bất mãn và đó cũng là lý do của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân thời kỳ này như cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Dương Hưng (Sau này là Nguyễn Danh Phương) ở Tam Đảo, Vũ Đình Dung ở Ngân Già, Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển ở Hải Dương…
Ở Đàng Trong, ruộng đất kém hơn ở Đàng Ngoài do diện tích đất nông nghiệp nhỏ, manh mún và kém về chất. Về sở hữu vẫn tồn tại ba loại sở hữu: sở hữu nhà nước, sở hữu làng xã, sở hữu tư nhân.
Ruộng đất công Đàng Trong chia làm “quân điền trang” và “quan đồn điền” thuộc quyền quản lý của chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cấp ruộng này cho người thân thích và công thần. Người thân thích nhà chúa được 10 mẫu, chưởng cơ 5 mẫu, cai cơ 4 mẫu, cai đội 3 mẫu. Ruộng đất ở các xã được phân chia theo lệ làng. Sang thế kỷ 18, mỗi xã dân được chia 5 đến 6 sào ruộng, binh lính thì được khẩu phần gấp 3 lần.
Ruộng đất tư được gọi là bản bức tư điền. Các chúa Nguyễn có chính sách kích thích sự phát triển ruộng tư: các đầm, đất thổ nhưỡng chiêm trũng, vùng nhiễm mặn, rừng rú đều được cải tạo thành các làng xã mới. Ruộng đất tư ở vùng Thuận Quảng phân tán, chủ yếu là loại vừa và nhỏ.[19]
Lúc đầu, do nhà nước chưa quản lý hết được ruộng đất, lại thêm chính sách khuyến khích khai khẩn nên đời sống nhân dân cũng khá hơn. Càng về sau, nho nhu cầu chiến tranh, kiểm soát của chính quyền về ruộng đất và chính sách thuế khóa, nông nghiệp Đàng Trong cũng trở nên đình đốn.
Về tình hình thủ công nghiệp. Ngoài chăm lo phát triển nông nghiệp, cải cách chế độ quản lý và sử dụng đất đai, thủ công nghiệp và thương nghiệp vào đầu triều Hậu Lê, nhất là triều Lê Thánh Tông có nhiều bước đột phá.
Hòa bình lập lại, nông nghiệp phát triển cũng là điều kiện để phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp. Các ngành, nghề truyền thống như kéo tơ, dệt lụa, đan lát, rèn sắt, dệt chiếu, làm nón, đúc đồng ngày càng phát triển ở  các làng. Những làng thủ công chuyên nghiệp lại nổi lên như Bát Tràng, Nghĩa Đô, Huê Cầu, Hương Canh, Mao Điền, Bất Bế v.v.. Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công của cả nước, bấy giờ được chia thành 36 phường. Mỗi phường hầu như đều có nghề thủ công nổi tiếng, “Phường Tàng kiếm làm kiệu, áo giáp, đồ đài mâm, võng, gấm trừu, dù lọng, phường Yên Thái làm giấy; phường Thụy Chương và phường Nghi Tàm dệt vải nhỏ và lụa; phường Hà Tân nung đá vôi; phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Tả Nhất làm quạt... phường Đường Nhân bán áo diệp y.... (Dư địa chí của Nguyễn Trãi).
Cùng với các làng nghề truyền thống ngày càng phát triển và trở nên nổi tiếng, nhà nước cũng tham gia vào thành lập và phát triển các xưởng thủ công để phục vụ nhu cầu quốc gia. Chăng hạn nhà nước thành lập các xưởng chuyên đúc tiền, chế tạo vũ khí, đóng thuyền, làm các đồ dùng cho vua quan như mũ, áo, giày, hốt.
Về tình hình thương nghiệp, ngoại thương. Mặc dù trong thời kỳ phong kiến với phương thức lấy sản xuất nông nghiệp là chủ yếu cùng tư tưởng coi trọng kẻ sĩ khinh miệt bọn “con buôn”, nhưng trên cơ sở của sự phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, việc lưu thông buôn bán cũng hồi phục và ngày càng mở rộng. Đó là nhu cầu khách quan. Nhờ thế, thương nghiệp cũng có điều kiện để phát triển. Tuy vậy, để vừa đảm bao giao thương hàng hóa, nhưng cũng trách việc buôn gian bán lận, thu lợi bất chính của các con buôn, nhà nước (Nhất là thời kỳ Lê Thánh Tông) cũng đã vừa mở mang các chợ, nhưng cũng đưa ra rất nhiều quy định để đảm bảo một nền thương nghiệp lành mạnh.
Các chợ được lập ở nhiều nơi và mọc lên ở các làng, hoặc ở vài làng có một chợ. Hàng hóa đem ra trao đổi, mua bán chủ yếu là nông phẩm hoặc các sản phẩm thủ công của địa phương. Việc lập chợ được quy định và quan phủ quan huyện được phép tâu lên nếu phù hợp với nhu cầu của địa phương.
Mặc dù tiền giấy được phát hành từ thời Hồ Quý Ly (1396), tuy nhiên, đến thời nhà Lê, đặc biệt là triều Lê Thánh Tông, tiền đồng đã được cho đúc lại. Bởi, có thể ông nhìn thấy được sự thất bại và từ kinh nghiệm đau thương từ công cuộc cải cách vượt thời đại của nhà Hồ. Vậy là từ thời Lê Thánh Tông tiền giấy không được phát hành mà đúc tiền đồng, vàng, bạc thỏi để dùng làm đơn vị trao đổi. Lương bổng cho quan lại binh lính, khen thưởng cũng được trả bằng tiền đồng. Người dân có thể đóng thuế bằng hiện vật nhưng cũng có thể đóng thuế bằng tiền đồng. Nhà nước giữ độc quyền đúc tiền, nếu ai đúc trộm thì bị xử chém (Điều 522 BLHĐ).
Để đảm bảo phát triển kinh tế nhà nước đã thống nhất các đơn vị đo lường. Dụng cụ cân, đong, đo, đếm phải được làm theo mẫu quy định thống nhất của nhà nước và luộn được thanh kiểm tra để đề phòng và xử lý gian lận. Việc xử lý hành vi dối tra trong đo lường cũng được luật hóa. Ở Điều 187 Bộ Luật Hồng Đức quy định: “Trong các chợ tại kinh thành hoặc thôn quê, những người mua, bán không đúng cân, thước, thang, đấu của nhà nước mà làm riêng của mình để mua bán thì xử tội biếm hoặc đồ” hay trong Điều 190 quy định: “… Người dùng thăng, đấu, cân thước riêng để thêm, bớt của công thì thêm tội một bậc. Người dùng thăng, đấu, cân, thước để mua bán lấy lợi riêng thì cũng như tội ăn trộm”.
Cũng để bảo vệ và phát triển nền thương nghiệp, nhà nước cũng đã có nhiều quy định chống làm hàng giả, chống buôn lậu. Chẳng hạn như trong các điều 613, 614 hay Điều 616 của Bộ Luật Hồng Đức đã thể hiện rõ điều đó.
Dười triều Lê Thánh Tông, ngoại thương cũng rất phá triển. Thuyền bè các nước láng giềng vẫn thường xuyên qua lại trao đổi nhất là ở Vân Đồn, Vạn Ninh (thuộc Quảng Ninh), Càn Hải, Hội Thống (thuộc Nghệ An). Ngoài các nước lân bang, tàu thuyền các nước xa như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cũng ghé vào các cảng lớn để trao đổi hàng hóa, hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta. Tuy nhiên, để giữ vững an ninh, nhà nước đặt các trạm kiểm soát ở cảng khẩu. Các chức giang hải tuần kiểm tra xét nghiệm ngặt những người nước ngoài đến buôn bán và trừng phạt nặng những ai tự ý, không có giấy phép mà vượt qua biên ải vào nội địa nước ta buôn bán trao đổi.
Do có sự khác nhau về tình hình chính trị, thời kỳ Lê Trung Hưng tình hình kinh tế có phần khác biệt giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài và xét về tổng thể được cho có nhiều sa sút so với thời kỳ trước đó.
Đất nước phân chia, nội chiến liên miên: khi thì chiến tranh với Nhà Mạc, khi thì Trịnh, Nguyễn phân tranh, khi thì chịu sự phản kháng của quân Xiêm… đã làm cho bức tranh kinh tế của Đại Việt thời kỳ đó trở nên ảm đạm.
Ở Đàng Ngoài mọi chính sách không có nhiều thay đổi nhưng do chiến tranh và không có bộ máy quản lý, pháp luật không được thực thi nghiêm túc, tệ quan liêu hoành hành nên kinh tế kém phát triển.
Ở Đàng Trong kinh tế nông nghiệp và thủ công kém phát triển do diện tích đất đai không phì nhiều, đất đai chiếm được của Chăm Pa chủ yếu là đồi núi, quản lý thủ công nghiệp chưa được lưu tâm trong điều kiện chiến tranh. Tuy nhiên, về thương nghiệp, Đàng Trong lại có nhiều khởi sắc. Do Đàng Trong có rất nhiều Hoa kiều do bất mãn với Triều đình Mãn Thanh đã dời xuống Đàng Trong cư ngụ để tìm cách “Phản Thanh phục Minh”, hơn nữa vào thời điểm đó do phía nhà Thanh áp dụng chính sách “Bế quan tỏa cảng” cấm cửa với nước ngoài nên các thương gia người Nhật, người Hà Lan, Bồ Đào Nha đã chuyển xuống làm ăn ở phía Nam do thuận lợi về đường biển. Đã xuất hiện nhiều hơn các trung tâm buôn bán sầm uất như Hội An, Thanh Hà, và sau đó là Sài Gòn – Gia Định…
Nhìn chung, kinh tế Đại Việt thời nhà Lê phân chia làm hai thời kỳ rõ rệt. Thời kỳ Lê Sơ mà đỉnh điểm là thời gian 38 năm trị vì của vị vua Lê Thánh Tông, kinh tế nước ta được khuyến khích và phát triển mạnh mẽ và toàn diện. Quan hệ sản xuất, buôn bán, trao đổi được thiết lập và điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản mà trên hết đó là Bộ Luật Hồng Đức. Các cơ quan và các quan lại phụ trách kinh tế được thiết lập và hoàn thiện để đảm bảo phát triển kinh tế.
Ngược lại, vào thời kỳ Lê Trung Hưng, do năng lực quản lý, chiến tranh, điều kiện ngoại cảnh, bức tranh kinh tế của cả thời kỳ được cho là màu xám và ảm đạm.
      b) Các chính sách, tình hình văn hóa, xã hội thời Hậu Lê
Hậu Lê được biết đến trong lịch sử như là một triều đại tồn tại lâu nhất cùng với nhiều những nốt thăng nhất, cường thịnh nhất, nhưng cũng không ít lần chìm đắm trong bóng tối với những nốt trầm của lịch sử dân tộc. Có lẽ phần nhiều là vì vậy mà để khắc họa thành công một cách cơ bản nhất đặc điểm văn hóa, xã hội của triều đại này là công việc không hề đơn giản.
Dù có nhiều thay đổi cả trên phương diện chính trị lẫn kinh tế, nhưng với đặc thù của phương thức sản xuất chủ yếu dựa trên khai thác giá trị của đất đai và sức lao động của nông dân, nên về cơ bản dưới triều đại Hậu Lê xã hội Việt Nam vẫn tồn tại hai giai cấp cơ bản: địa chủ phong kiến và nông dân. Địa chủ là quý tộc, quan lại được nhà nước cấp đất hoặc các đất có được từ thế nghiệp hoặc những người có đất từ các hoạt động trao đổi, giao dịch hay được cấp đất từ trước gọi là địa chủ thường. Thời kỳ nhà Hậu Lê điền trang thái ấp không được cỗ vũ phát triển vì vậy hầu hết đất đai mà các địa chủ quý tộc, quan lại có được là do nhà nước phong cấp theo phép lộc điền, còn các quan chức cấp thấp theo phép quân điền…
Nông dân là tầng lớp chiếm số đông trong xã hội. Họ là lực lượng lao động chủ yếu tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Cùng với những chính sách cải cách khuyến khích nông nghiệp thời Lê vai trò và vị thế của nông dân về cơ bản được cải thiện. Nông dân dưới thời Lê mặc dù làm việc trong các đất lộc điền, quân điền của địa chủ phong kiến nhưng không phải là nông nô của địa chủ phong kiến đó. Địa chủ, phong kiến chỉ được cấp đất chứ không được cấp người. Địa chủ chỉ được hưởng địa tô trên đất đó còn về nguyên tắc nông dân vẫn là thần dân của nhà Vua. Các nông dân được chia đất, được làm việc trên ruộng đất và chỉ phải nộp tô theo quy định. Vì thế người nông dân được tự do hơn, họ có thể được học hành. Thậm chí, nhiều nông dân còn được nhà nước cho phép, khuyến khích chuyển đến vùng đất mới để khai hoang lập đồn điền. Ruộng mới được khai hoang thuộc tư hữu và chưa phải đóng thuế mà chỉ phải dành suất ruộng công để làm nộp thuế cho nhà nước.
Ngoài hai giai cấp cơ bản, trong xã hội, cũng như bất kỳ thời kỳ nào của phong kiến Việt Nam, còn tồn tại nhiều tầng lớp khác.
Trước hết phải nói đến đội ngũ thợ thủ công và thương nhân. Hai tầng lớp này trở lên đông đảo và phát triển mạnh mẽ nhất dưới thời Lê Thánh Tông.
Cùng với những chính sách mở rộng sản xuất, kinh doanh, khuyến khích mở chợ, giao lưu kinh tế và quy định chặt chẽ trong các văn bản luật, điển chế để quản lý các hoạt động này, các phường, trung tâm thủ công nghiệp phát triển rực rỡ. Như đã trình bày ở trên, ở kinh thành Thăng Long đã hình thành các phường các khu cụm chuyên môn sản xuất mặt hàng thủ công nổi tiếng trong và ngoài nước, như các phố đúc đồng, dệt vải, tranh, gốm sứ….
Cùng với sự phát triển của thủ công nghiệp và nông nghiệp nhu cầu trao đổi hàng hóa tăng mạnh. Nhu cầu ấy đã kích thích phát triển rực rỡ đội ngũ dân buôn. Vai trò của thương nhân ngày càng trở nên quan trọng, các của cảng như Vân Đồn và sau này như Hội An, Sài Gòn – Gia Định… được hình thành và trở thành trung tâm trao đổi kinh tế văn hóa không chỉ trong nước mà con với nước khác.
Sự khẳng định vị thế của Nho giáo và khoa cử trong xã hội cũng đã giúp hình thành đội ngũ đông đảo các nhà Nho, ông đồ và các học trò Nho học. Đội ngũ “kẻ sĩ” này trong thời kỳ Lê được coi là tinh hoa của xã hội. Việc mở lớp học Nho ở khắp nơi cùng với việc học hành thi cử theo lề lối nho học để tiến thân trên con đường hoan lộ đã góp phần hình thành một đội ngũ đông đảo trí thức Nho giáo trong xã hội đầu triều Lê.
Ở giai đoạn Trung Hưng, Nho giáo dần suy tàn, Phật Giáo và Đạo Giáo có cơ hội được phát triển. Điều này đã tạo cơ hội để hình thành đội ngũ không kém phần đông đảo là các thầy tu và đạo sĩ. Ngoài ra, ở nửa cuối thời Trung Hưng với việc giao lưu mạnh mẽ về kinh tế với nước ngoài như các con buôn đến từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp… đã bắt đầu có những ảnh hưởng về tư tưởng từ phương Tây, đặc biệt trong lĩnh vực tôn giáo. Thiên Chúa giáo bắt đầu được truyền vào Việt Nam và điều này tạo điều kiện để phát sinh trong xã hội Việt Nam, nhất là Đàng Trong đội ngũ các nhà truyền giáo Thiên Chúa giáo.
Mặc dù có những cải cách hướng đến chăm lo cho những người yếu thế trong xã hội như người già, người tàn tật, trẻ mồ côi, cô quả… nhưng xã hội phong kiến triều Hậu Lê cũng vẫn tồn tại một tầng lớp nô tỳ. Tuy nhiên, với những quy định rất tiến bộ của triều đại, nhất là quy định của Bộ Quốc triều hình luật, việc buôn bán và bức làm nô ty đã bị cấm nên ở thời kỳ này hiện tượng nô tỳ hóa nông dân có phần hạn chế và suy giảm.
Không chỉ vậy, về tình hình văn hóa Triều Hậu Lê có nhiều điểm rất nổi bật. Với quan điểm Lễ trị, dùng đức thu phục lòng người, dùng lễ nghĩa để cảm hóa và cai trị nhân dân các vua Lê, nhất là Vua Lê Thánh Tông đã có nhiều quyết sách để củng cố và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc. Vào năm Hồng Đức thứ 16 (1485) Thánh Tông đã ra chỉ dụ cho các Thừa, Hiến, các quan phủ, huyện, châu các xứ: “Lễ nghĩa để sửa tốt cho dân, nông tang để đủ cơm áo. Hai điều đó là việc cần kíp của chính sự. Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, tất cả những phép dạy dân nên phong tục tốt, những việc dấy lợi, trù hại cho dân không điều gì không nói rõ trong huấn dụ để các người theo thế mà làm…”.[20] Như vậy, có thể thấy ngoài việc lo cái ăn, cái ấm cho thiên hạ, nhà nước còn rất quan tâm đến vấn đề văn hóa tinh thần của nhân dân và đó là hai vấn đề chủ yếu của trị nước. Chăm lo tinh thần trước hết là biết phát huy, làm trỗi dậy đời sống văn hóa tình thần của nhân dân thông qua các phong tục, tập quán.
Trong Bộ Luật Hồng Đức tại Điều 297 quy định: “Có những người hiếu hữu cùng đàn bà trinh liệt mà không tâu lên để ban thưởng, hay có những kẻ loạn luân trái đạo mà không tâu lên để trị tội, thì quan lộ, quan huyện bị xử tội biếm hay phạt”. Cũng trong Bộ Luật này có thể tìm thấy rất nhiều những điều khoản liên quan đến loại bỏ những phong tục, tập quán xấu, cổ vũ những hành vi văn hóa, phong tục tập quán lành mạnh. Chẳng hạn, tại các điều 141, 142, 294, 295, 401-409, 413, 414, 423,  501-513, 604, 607… là những quy định khuyến khích lòng nhân từ, lá lành đùm là rách, bài trừ thói hư tật xấu, bất hiếu, bất kính, cờ bạc, mê tín, dị đoan, loạn luân…
Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo triều Lê cũng có nhiều điểm khác biệt so với các triều đại trước đó.
Nếu ở thời nhà Lý, Trần Phật giáo chiếm vị trí độc tôn trong xã hội, được coi là tư tưởng chính trị chính thống, thì ở thời nhà Lê, nhất là Lê Thánh Tông, Nho giáo chiếm địa vị độc tôn. Không chỉ chiếm vị trí là tư tưởng chính trị chính thống, qua sự phát triển của giáo dục Nho học, khoa cử theo mô hình và nội dung Nho giáo, cũng như việc khích lệ quần chúng và luật hóa các lễ giáo trong nhân dân đã góp phần quan trọng  phát triển và khẳng định vị trí của Nho giáo trong xã hội. Cần phải nói thêm rằng, khác với Tống Nho bên Trung Quốc, khi vào Việt Nam Nho giáo đã kết hợp nhiều yếu tố truyền thống, văn hóa dân tộc và không còn khắt khe như Tống Nho, đặc biệt là những quan niệm về người phụ nữ… đã làm cho người dân xích lại với Nho giáo nhiều hơn.
Về Phật giáo trong tình hình văn hóa xã hội Hậu Lê. Dù năm 1461, nhà nước cấm quan lại, nhân dân không được xây thêm chùa quán mới, tự tiện đúc chuông, tô tượng. Tuy nhiên, Phật giáo cũng vẫn được tồn tại hoạt động và phát triển, đặc biệt ở các làng quê Việt Nam. Cũng phải khẳng định rằng, những quy định của Vua Lê Thánh Tông được ban ra để hạn chế sự tùy tiện cũng như chấn chỉnh lại hoạt động của các thầy tu và đạo sỹ. Bởi ở cuối đời Trần nhiều nhà sư đạo sĩ đã lợi dụng nhân dân đã phát triển các hoạt động văn hóa mang tính di đoan như cúng bái, gọi hồn, bói toán, gieo quẻ, làm phép…làm mất đi giá trị đích thực của tôn giáo.
Ngoài việc phát triển Nho giáo, chấn chỉnh Phật giáo và Đạo giáo, nhà Lê cũng quan tâm đến nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Năm 1449, nhà Lê bắt đầu lập đền thờ Đô đại Thành hoàng ở kinh sư cùng đền thờ thần gió, mây, mưa, sấm để hàng năm cúng tế. Cùng năm 1449 Lê Nhân Tông cũng cho tổ chức ngày hội chiến thắng ban yến cho các quan, làm khúc nhạc "Bình Ngô phá trận" vừa tấu vừa múa. Hay, Điện Lam Sơn được xây dựng và hàng năm, các vua Lê ngự về cúng tế tổ tiên. Lam Kinh cũng là nơi dựng lăng của các vua thời Lê. Trong nhân dân tục thờ cúng các anh hùng có công với nước được phổ cập. Những người có công trong khởi nghĩa Lam Sơn đều được nhân dân thờ phụng. Tục thờ tổ tiên phổ biến khắp nơi: Các dòng họ có công với làng, với nước đều xây đền thờ, ghi chép gia phả, cúng tế hàng năm.
Văn học nghệ thuật triều Lê cũng có nhiều dấu ấn đặc biệt. Có lẽ đây là thời kỳ đỉnh cao của văn học trong lịch sử các triều đại Việt Nam. Nhiều tác phẩm chữ Hán như “Quân trung từ mệnh tập”, "Đại cáo bình Ngô" là những áng văn bất hủ thể hiện tinh thần, nhuệ khí dân tộc. Bên cạnh đó còn nhiều tác phẩm lưu danh sử sách như “Ức Trai thi tập”, “Quốc âm thi tập”, “Lam sơn thực lục” của Nguyễn Trãi, “Phú Xương Giang” của Lý Tử Tấn, “Phú Lam Sơn” của Vu Mộng Nguyên v.v... “Quỳnh uyển cửu ca” của hội Tao Đàn (Lê Thánh Tông thành lập), “Hồng Đức quốc âm thi tập”,…. Ngoài tác phẩm chữ hán, văn học chữ Nôm đã giữ một vị trí quan trọng. Các đại văn hào như Nguyễn Trãi hay chính Vua Lê Thánh Tông cũng không ít lần sáng tác bằng tiếng Nôm. Như vậy, các tác phẩm nói trên đã khẳng định thời kỳ thịnh trị của nền văn học nước nhà. Đó là thời kỳ văn trị.
Ngoài văn học, thời kỳ nhà Lê còn ghi dấu ấn với rất nhiều tác phẩm biên niên sử, những công trình địa lý có giá trị cho đến tận ngày nay như: “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên, “Nam Sơn thực lục” của Nguyễn Trãi… Hay các tác phẩm khác như: “Thiên Nam dư hạ tập, “Hoàng triều quan chế”, “Dư địa chí”  của Nguyễn Trãi…
Về nghệ thuật, thì ở thời nhà Hậu Lê, đặc biệt là thời Lê, âm nhạc tương đối phát triển. Ở Thời kỳ này, nhã nhạc cung đình đã được hình thành và biên soạn rất công phu. Nhã nhạc được chia ra nhiều thể loại như: nhạc tế, nhạc lễ, nhạc yến tiệc, nhạc trong cung... Thời Lê Thánh Tông, Thân Nhân Trung, Đỗ  Nhuận, Lương Thế Vinh được giao việc nghiên cứu nhạc nước ngoài để chế định lại lễ nhạc trong triều gồm 2 bộ Đồng văn, chuyên về luyện tập nhạc khí và bộ Nhã nhạc chuyên về ca hát.
Âm nhạc dân gian hay được gọi là tục nhạc do ti Giáo phường trông coi và không được dùng trong Cung đình. Bấy giờ nổi lên bản nhạc “Bình Ngô phá trận”, được tấu và múa vào những ngày hội mừng chiến thắng. Trong nhân dân, các điệu múa, nhạc cổ thời xưa vẫn tiếp tục phát triển, Bên cạnh đó, nghệ thuật tuồng, chèo ngày càng phổ biến, thường được tổ chức vào các ngày hội, ngày lễ….
Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc ở thời Lê không được chú ý và phát triển. Các công trình Phật giáo như chùa chiền, chuông tượng bị tàn phá nhiều ở những năm cuối Trần và đô hộ Minh, không có điều kiện phục hồi do sự tập trung của nhà nước vào phát triển Nho giáo. Tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đương thời là những di tích của điện Lam Kinh, tuy nhiên hiện nay cũng không còn nguyên vẹn.
Trong thời kỳ Trung Hưng ở Đàng trong có sự xuất hiện văn hóa Chăm-Pa. Những hoạt động văn hóa cộng cộng, điệu múa Chăm, điêu khắc và kiến trúc rất độc đáo của Chăm – Pa đã được hợp nhất vào văn hóa của Đại Việt tạo nên sự đa dạng trong văn hóa Việt Nam thời kỳ Hậu Lê.
Như vậy, thông qua những nét phác họa một cách khái lược ở trên về bối cảnh, tình hình cũng như chính sách của triều Hậu Lê về chính trị-tư tưởng, kinh tế, văn hóa-xã hội, thiết nghĩ, những thiết chế, chế định của nhà nước và pháp luật sẽ được nhìn nhận một cách khách quan, đầy đủ hơn trong mối tương quan với việc bảo vệ những quyền con người. Quả thực, nếu không đặt trong bối cảnh, tình hình chung thời đại đó thì những “điểm tiến bộ” của nhà nước và pháp luật Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người sẽ không còn là “tiến bộ” nữa nếu chúng bị nhìn nhận trong bối cảnh của thời đại ngày nay.







[1] Từ thời nhà Trần, tính chất quý tộc của nhà nước được biểu hiện rõ nét trong tổ chức quyền lực nhà nước và đây cũng là tính chất phổ biến của nhà nước quân chủ chuyên chế.
[2] Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Quyển X, Kỷ nhà Lê, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 307.
[3] Dẫn theo Nguyễn Hải Kế trong sách Quốc Triều Hình Luật, lịch sử hình thành nội dung và giá trị (Chủ biên, Lê Thị Sơn), Nxb. Khoa học Xã hội, tr.8-9.
[4] Dẫn theo: Lê Đức Tiết, Lê Thánh Tông – vị vua anh minh, nhà cách tân vĩ đại. NXB Tư pháp, 2007, tr. 13.
[5] Dẫn theo: Nguyễn Hải Kế trong sách Quốc Triều Hình Luật, lịch sử hình thành nội dung và giá trị (Chủ biên, Lê Thị Sơn), Nxb. Khoa học Xã hội, tr.7
[6] Quân Lam Sơn đã làm lễ, cấp thuyền, ngựa và lương thực để long trọng đưa tiễn hàng quân của Vương Thông về nước – đây là chính sách ứng xử đặc biệt và phi truyền thống trong quan hệ với quốc gia đi xâm chiếm.
[7] Dẫn theo Lê Đức Tiết, Sđd, trang 47-48.
[8]  Điều 98-99 Quốc Triều hình luật
[9] Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển III. NXB. Khoa học xã hội, H.1993, tr. 290.
[10] Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển III. NXB. Khoa học xã hội, H.1993, tr. 486.
[11] Đại việt sử ký toàn thư, Sđd, quyển XII, trang 429.
[12] Đại việt sử ký toàn thư, Sđd, quyển XII, trang 456.

[13] Lê Đức Tiết, Lê Thánh Tông – vị vua anh minh, nhà cách tân vĩ đại, NXB Tư pháp, 2007. Tr. 27.
[14] Viện sử học (2007). Lịch sử Việt Nam tập 4. Nxb. Khoa học xã hội.
[15] Lê Hiển Tông có câu nói nổi tiếng thể hiện sự an phận thủ thường mà nhiều sách sử có ghi chép lại: “Trời sai nhà chúa phò ta. Chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui. Mất chúa nghĩa là cái lo lại về ta, ta còn vui gì”.
[16] Khởi nghĩa nổ ra ở nhiều địa phương ở Đàng Ngoài như Tam Đảo, Hải Dương… nổi bật hơn cả là các lãnh tụ Hoàng Công Chất, Nguyễn Hữu Cần, Nguyễn Danh Phương…
[17] Một trong những tiêu chí quan trọng là phải có học, là những môn đồ Nho học nhưng không có thể tiếp tục tiến cao hơn nữa trong con đường hoan lộ, thi cử.
[18] Quốc Triều hình luật đã được rất nhiều nhà nghiên cứu đồng tình ở chỗ, một trong những đặc điểm cơ bản của Luật này là đã phản ánh sâu sắc tư tưởng Nho giáo.
[19] Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội, trang 199-200.

[20] Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục. Quyển XIII, Kỷ Nhà Lê. NXB. Khoa học xã hội. H.1993, tr. 497.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.