Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2019

THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP 2013 VỀ HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA

ảnh: Internet

                Thái Doãn Thành;
 Mai Văn Thắng

                 Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học:
                 "Đánh giá 05 năm thi hành Hiến pháp 
                 nước CHXHCN Việt Nam 2013
                 Khoa Luật, ĐHQGHN, 9/2018

1.     Dẫn nhập
Một trong những nội dung mới và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đời sống chính trị, nhà nước và pháp luật Việt Nam là những quy định trong Điều 117 Hiến pháp 2013 về Hội đồng Bầu cử quốc gia (HĐBCQG). Sự ra đời thiết chế hiến định này không chỉ thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy lý luận về tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước mà còn khẳng định nỗ lực và quyết tâm của Việt Nam hướng tới các chuẩn mực chung, phổ quát trong việc bảo đảm thực hiện các quyền dân chủ của người dân, khẳng định nền tảng dân chủ, chủ quyền nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Kể từ khi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, ngày 6 tháng 01 năm 1946 để bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được tiến hành, nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, nước ta đã trải qua 14 cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội. Bầu cử là một trong những chế định quan trọng nhất của nền dân chủ, là cơ chế hợp pháp để người dân chuyển giao quyền lực thông qua con đường hòa bình, dân chủ, hợp pháp và văn minh. Đối với Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Bởi vậy sự thành công hay thất bại của cả bộ máy nhà nước, của hệ thống chính quyền phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, thành quả các cuộc bầu cử. Một trong các yếu tố góp nên thành công của các cuộc bầu cử là cơ quan phụ trách công tác bầu cử. Tuy nhiên, phải đến Hiến pháp năm 2013 Hội đồng bầu cử quốc gia với tư cách là cơ quan phụ trách bầu cử toàn quốc mới có được vị trí xứng đáng như vốn có của nó - thiết chế hiến định độc lập.
Dù vậy, do đây thiết chế mới được hiến định trong Hiến pháp nên với tính chất là các nguyên tắc, quy phạm pháp lý nền tảng, cơ bản, Hiến pháp đã không quy định cụ thể về cách thức thành lập cũng như tổ chức và hoạt động của HĐBCQG mà trao quyền cho Quốc hội ban hành các văn bản luật để quy định cụ thể, chi tiết.
Tuy nhiên, sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực, Quốc hội khóa XIII đã không kịp ban hành một đạo luật cụ thể hóa mà thiết chế này được quy định ở rất nhiều những văn bản khác nhau. Việc tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên quy mô toàn quốc cũng đã được Hội đồng bầu cử quốc gia tiến hành. Nhưng, trong thực tế cũng đã có nhìn nhận khác nhau về thành phần, cơ cấu và cách thức mà Hội đồng bầu cử quốc gia tiến hành trong đợt bầu cử khóa, nhiệm kỳ này.
Mặc dù vậy, không thể phủ nhận HĐBCQG đã tổ chức một cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp khá thành công, bảo đảm các quyền dân chủ của người dân, giữ vững được sự ổn định chính trị, thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Hiến pháp đã ban hành và có hiệu lực được 5 năm và đây là cơ hội tốt để nhìn nhận, đánh giá việc thực thi các quy định hiến định liên quan đến thiết chế này để bảo đảm những quy định của Hiến pháp được thực sự tôn trọng, thực thi trên thực tế, khẳng định tính tối thượng của Hiến pháp và quan trọng hơn là góp phần hướng tới xây dựng thành công nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân và sự phát triển bền vững của một xã hội dân chủ, tiến bộ, nhân quyền và pháp quyền.

2. Thực tiễn triển khai quy định của Hiến pháp 2013 về Hội đồng bầu cử quốc gia
2.1. Đánh giá nội dung các quy định cụ thể hóa việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia theo tinh thần Hiến pháp 2013.
Điều 117 Hiến pháp năm 2013 quy định:
1. Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp.
2. Hội đồng bầu cử quốc gia gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.
3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng bầu cử quốc gia và số lượng thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia do luật định.
Quy định trên là cơ sở pháp lý quan trọng để Quốc hội xây dựng các văn bản luật quy định cụ thể, chi tiết về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG. Ngày 25/6/2015, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND được ban hành. Đạo luật này đã dành riêng Mục 1 Chương III (từ Điều 12 đến Điều 20) quy định về HĐBCQG. Theo đó, Mục 1 Chương III Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015 đã thể hiện tương đối đầy đủ và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về tổ chức và hoạt động của chế định HĐBCQG ở Việt Nam hiện nay.
Về nội dung các quy định trong Luật nói trên, các tác giả nhận thấy:
- Pháp luật quy định HĐBCQG do Quốc hội thành lập là phù hợp với cơ chế hình thành các cơ quan hiến định trong bộ máy nhà nước và mô hình tổ chức quyền lực của Việt Nam. Bên cạnh đó, quy định như vậy vừa có ý nghĩa thừa nhận HĐBCQG là cơ quan nhà nước ở trung ương, vừa thể hiện vị trí độc lập trong mối quan hệ với Chính phủ, TAND tối cao, Viện KSND tối cao, ... các thiết chế do Quốc hội lập nên. Tuy nhiên, ở một chừng mực nào đó các quy định trong Điều 12 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND còn chưa thể hiện rõ sự độc lập của HĐBCQG so với chính Quốc hội. HĐBCQG là cơ quan tổ chức bầu cử Quốc hội nên dù được Quốc hội bầu ra nhưng cần phải có vị trí độc lập với Quốc hội mới đảm bảo vai trò, vị trí “hiến định” và độc lập cần thiết của thiết chế này. Quốc hội khóa trước hoàn toàn có quyền năng thành lập HĐBCQG để tổ chức bầu cử Quốc hội khóa sau và chỉ đạo bầu cử HĐND các cấp.
- Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật quy định cơ cấu thành viên của HĐBCQG từ mười lăm đến hai mươi mốt người bao gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện của UBTVQH, Chính phủ, Ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan khác.[1] Đây là sự kế thừa về cơ cấu thành viên HĐBC ở trung ương như giai đoạn trước Hiến pháp năm 2013, nhằm bảo đảm sự đa dạng về thành phần thành viên HĐBCQG. Sự đại diện đa dạng các thành viên trong Hội đồng bầu cử từ các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội có ưu điểm tránh sự phụ thuộc của HĐBCQG vào một cơ quan nhà nước nào đó, thể hiện được tính độc lập. Tuy nhiên, HĐBCQG thiếu vắng các chuyên gia, đại diện trung lập từ các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp là hạn chế vẫn chưa được khắc phục. Sự thiếu vắng này có thể làm giảm đi tính độc lập của Hội đồng bầu cử so với các cơ quan chính trị và nhà nước. Bên cạnh đó, các thành viên Hội đồng bầu cử chủ yếu là các lãnh đạo các cơ quan UBTV Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội. Chủ tịch Quốc hội thường là Chủ tịch Hội đồng bầu cử (danh sách thành viên HĐBCQG ngày 10/2/2016). Việc kiêm nhiệm như vậy ở góc độ nào đó có thể gây ra những quan ngại đến tính độc lập của cơ quan này. Không những thế, các lãnh đạo trong các cơ quan chủ chốt của nhà nước đa phần là đại biểu Quốc hội, điều này có thể dẫn đến tình trạng “chính mình lại tổ chức bầu ra mình”, điều đó không tránh khỏi sự nghi ngại của dư luận.
- Cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm thành viên của HĐBCQG do Quốc hội và UBTVQH thực hiện. Cách thức thực hiện tương đương như đối với Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và Kiểm toán nhà nước. Với tư cách là cơ quan thường trực của Quốc hội, UBTVQH giữ quyền đề nghị Quốc hội bầu Chủ tịch HĐBCQG mà không trao quyền này cho Nguyên thủ quốc gia là Chủ tịch nước nhằm bảo đảm thống nhất về mô hình tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Tuy nhiên, cách thức lựa chọn thành viên do Quốc hội và UBTVQH thực hiện vẫn chưa thể hiện rõ vị trí, tầm vóc của HĐBCQG trong mối quan hệ với thiết chế do cơ quan này tổ chức bầu ra. Quy định này ở văn bản luật đồng nghĩa với việc coi HĐBCQG chỉ tương đương với một thiết chế thuộc Quốc hội chứ chưa phải thiết chế hiến định độc lập. Ở chừng mực nào đó, thiết nghĩ, đạo luật chưa thể hiện rõ vị trí của thiết chế hiến định này và chưa thể hiện đầy đủ tinh thần của Hiến pháp 2013 về HĐBCQG.
- Về cách thức bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng bầu cử Quốc gia.
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 70 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội có thẩm quyền “bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm” Chủ tịch HĐBCQG. Điều này cũng được khẳng định trong Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 tại Khoản 6 Điều 8: “Quốc hội bầu Chủ tịch HĐBCQG” và Điều 11: “Quốc hội miễn nhiệm, bãi nhiệm [...] người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật này theo đề nghị của cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chức vụ đó”. Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 12 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015 chỉ quy định: “Chủ tịch Hội đồng bầu cử Quốc gia do Quốc hội bầu, miễn nhiệm theo đề nghị của UBTV Quốc hội”. Quy định này có sự thiếu thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 bởi không ghi nhận thẩm quyền của Quốc hội trong việc bãi nhiệm Chủ tịch HĐBCQG.
- Về cách thức bổ nhiệm Phó Chủ tịch và các Ủy viên của HĐBCQG
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015: “Các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia”. Tuy nhiên quy định trên còn thiếu sót khi không ghi nhận thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với Phó Chủ tịch và các Ủy viên của HĐBCQG thuộc về ai. Giống với các chức danh khác trong các cơ quan hiến định như Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Phó Chánh án TAND tối cao, Phó Viện trưởng Viện KSND tối cao... do Chủ tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội để bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (Điều 88 Hiến pháp năm 2013).
Bên cạnh đó, Điều 117 Hiến pháp năm 2013 và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015 chưa quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn thành viên HĐBCQG nhằm bảo đảm cho yêu cầu về tổ chức bầu cử minh bạch và công khai.
Ngoài những vấn đề trên, theo quan điểm của các tác giả, chế định HĐBCQG là chế định hiến định độc lập làm việc dựa trên nguyên tắc tập thế, quyết định theo đa số, [2] tuy nhiên, việc giao quyền cho Chủ tịch HĐBCQG đề xuất các thành viên khác sẽ làm ảnh hưởng tới quyết định độc lập của từng thành viên khi thực hiện nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số. Khi có sự tác động về mặt nhân sự, sự bình đẳng của các thành viên trong công việc cũng ít nhiều bị ảnh hưởng. Thiết nghĩ, quy định này của Luật chưa phản ánh đầy đủ ý nghĩa của thiết chế hiến định độc lập và đặc thù như HĐBCQG. Chế độ báo cáo được ghi nhận trong Điều 13 của bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND 2015 cũng làm ảnh hưởng đến vị thế, vai trò của HĐBCQG theo tinh thần Hiến pháp 2013.
Nguyên tắc hoạt động của HĐBCQG được quy định cụ thể tại Điều 13 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015. Theo đó “Hội đồng bầu cử quốc gia hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Hội đồng bầu cử quốc gia tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành”.
Đây thực chất là sự kế thừa từ các quy định của pháp luật ở giai đoạn trước đối với cơ quan phụ trách bầu cử ở nước ta. Cụ thể tại Điều 19 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997: “Các tổ chức phụ trách bầu cử làm việc theo chế độ tập thể; các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa số thành viên biểu quyết tán thành”. Sau đó tiếp tục được khẳng định tại Điều 13 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015, cũng như tại Khoản 1 Điều 2 trong Quy chế làm việc của HĐBCQG ban hành kèm theo Nghị quyết số 19/2015/HĐBCQG ngày 17/12/2015 của HĐBCQG: “Hội đồng bầu cử quốc gia làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Việc pháp luật quy định nguyên tắc hoạt động của HĐBCQG như vậy là phù hợp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 8: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”.
- Bộ máy giúp việc của HĐBCQG được ghi nhận tại Điều 19 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015. Theo đó:
1. Hội đồng bầu cử quốc gia có bộ máy giúp việc do UBTV Quốc hội quy định.
2. Hội đồng bầu cử quốc gia có quyền trưng tập cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội để giúp việc cho Hội đồng bầu cử quốc gia.
3. Kinh phí hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Trên cơ sở đó, tại Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 1074/2015/UBTVQH 13 ngày 11/12/2015 quy định về bộ máy giúp việc của HĐBCQG: “Văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia là bộ máy giúp việc của Hội đồng bầu cử quốc gia”. Tuy nhiên, việc pháp luật quy định “bộ máy giúp việc của HĐBCQG là do UBTVQH quy định” thông qua Nghị quyết của UBTVQH là không bảo đảm tính hợp hiến và tính hợp pháp (Điều 15, 16 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015), bởi một một văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của cơ quan độc lập ở tầm hiến định như HĐBCQG là thuộc thẩm quyền của Quốc hội ban hành (Luật hoặc ít nhất là Nghị quyết của Quốc hội; có chăng được sự ủy quyền của Quốc hội thì là Pháp lệnh của UBTVQH). Còn việc thành lập các Tiểu ban do HĐBCQG thực hiện đã làm tăng tính độc lập, tự chủ, không phụ thuộc của HĐBCQG trong hoạt động lãnh đạo và quản lý bầu cử, đồng thời góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp của HĐBCQG trong công tác bầu cử. Tuy nhiên để bảo đảm cho hoạt động của HĐBCQG được thực hiện tốt hơn, pháp luật cần quy định cụ thể về nhiệm vụ quyền hạn của từng Tiểu ban đối với lĩnh vực của mình.
- Chế độ làm việc của HĐBCQG, tại Điều 3 Quy chế làm việc của HĐBCQG năm 2015, Hội đồng có 3 hình thức phiên họp gồm:
1. Phiên họp toàn thể (phiên họp thường niên) được tổ chức công khai định kỳ mỗi tháng một lần. Phiên họp toàn thể của HĐBCQG được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự. Các thành viên không tham dự được phải báo cáo Chủ tịch HĐBCQG.
2. Phiên họp bất thường được tổ chức theo yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số thành viên hoặc theo đề nghị của Chủ tịch HĐBCQG
3. Phiên họp nội bộ do Chủ tịch HĐBCQG gia quyết định.
Việc pháp luật quy định về phiên họp của HĐBCQG như vậy là hợp lý, thể hiện tính linh hoạt của HĐBCQG trong giải quyết các công việc, bảo đảm cho các thành viên của Hội đồng được cung cấp các thông tin, trao đổi ý kiến về tổ chức, quản lý bầu cử một cách thường xuyên, kịp thời, đồng thời giúp Hội đồng có thể lắng nghe ý kiến từ đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan.
- Về chế độ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác hoạt động, tại Điều 13 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015 quy định, sau đó tiếp tục được khẳng định tại Điều 6 Quy chế làm việc của HĐBCQG năm 2015: “Hội đồng bầu cử quốc gia chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo về hoạt động của mình trước Quốc hội, UBTV Quốc hội”.
Mối quan hệ này xuất phát từ cách thức thành lập của HĐBCQG đó là do Quốc hội thành lập, Chủ tịch HĐBCQG do UBTVQH giới thiệu để Quốc hội bầu, Chủ tịch HĐBCQG đề nghị Quốc hội phê chuẩn Phó Chủ tịch và các thành viên khác của HĐBCQG. Chế độ báo cáo của HĐBCQG được quy định lần lượt tại Điều 17, Điều 88 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015, sau đó tiếp tục được khẳng định tại Điều 6 trong Quy chế làm việc của HĐBCQG ban hành ngày 19/12/2015, theo đó: HĐBCQG chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác hoạt động của mình trước Quốc hội và UBTVQH; Định kỳ hàng tháng hoặc trong trường hợp cần thiết, HĐBCQG báo cáo với UBTVQH về tình hình, kết quả tổ chức bầu cử; Tại kỳ họp cuối cùng của Quốc hội đương nhiệm, HĐBCQG báo cáo Quốc hội về kết quả hoạt động từ khi thành lập và công tác chuẩn bị bầu cử trong cả nước; Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa mới, HĐBCQG trình Quốc hội báo cáo tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước và báo cáo xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội.
Với chế độ báo cáo như vậy tuy đã bảo đảm được sự giám sát thường xuyên, liên tục của Quốc hội và UBTVQH đối với hoạt động của HĐBCQG cũng như thể hiện được tính liên tục trong hoạt động của HĐBCQG. Đây là điểm khác biệt lớn so với hoạt động của cơ quan phụ trách bầu cử ở nước ta trong những giai đoạn trước, cụ thể, ở các giai đoạn trước, pháp luật mới chỉ quy định việc Hội đồng bầu cử trình Quốc hội khóa mới biên bản tổng kết cuộc bầu cử và hồ sơ, tài liệu về bầu cử (Điều 19 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1992; Điều 21 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997) mà không quy định chi tiết, cụ thể về thời gian báo cáo, vấn đề cần báo cáo... Ngoài ra, ở giai đoạn này, cả Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015 và Quy chế làm việc của HĐBCQG năm 2015 đều không quy định cụ thể về nội dung từng loại báo cáo nhằm làm rõ hai vấn đề: Thứ nhất, trách nhiệm của HĐBCQG; Thứ hai, “cung cấp thông tin, phản ánh ý kiến của cử tri, nhân dân về những vấn đề liên quan đến công tác hoàn thiện chế định bầu cử, pháp luật về bầu cử nhằm bảo đảm và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng chính quyền”[3].
-         Về nhiệm vụ, quyền hạn.
Nhiệm vụ của HĐBCQG được quy định tại Khoản 1 Điều 117 Hiến pháp năm 2013, theo đó: “1. Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp”.
Trên cơ sở đó, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015 đã cụ thể hóa tại Điều 14, 15, 16. Trong đó, Luật quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn chung của HĐBCQG (Điều 14); nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG trong việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (Điều 15) và nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG trong việc chỉ đạo, hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp (Điều 16)
Nhìn chung, về nhiệm vụ quyền hạn của HĐBCQG được pháp luật quy định khá cụ thể để thực hiện một số công việc quan trọng, cốt yếu của cuộc bầu cử như tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; Lập danh sách người ứng cử; Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, vận động bầu cử; chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong bầu cử; Xác nhận tư cách đại biểu... Nhưng có thể thấy, ngoài một quy định mới về nhiệm vụ của HĐBCQG là “quản lý và phân bổ kinh phí tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội” thì những nội dung còn lại là mang tính kế thừa từ nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng bầu cử ở trung ương trong những giai đoạn trước đây. Tuy nhiên, với tư cách là một cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước trong tổ chức, chỉ đạo bầu cử, những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG được pháp luật quy định vẫn còn một số hạn chế nhất định dẫn đến tính độc lập và vị trí là cơ quan cao nhất có thẩm quyền tổ chức và chỉ đạo bầu cử của cơ quan này bị hạn chế. Ví dụ: Quốc hội quyết định ngày bầu cử, việc bầu cử bổ sung; UBTVQH thực hiện việc dự kiến và phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội; Chính phủ chỉ đạo tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm kinh phí, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí tổ chức bầu cử... Việc phân bổ nhiệm vụ cho nhiều cơ quan thực hiện trong việc tổ chức, quyết định một số vấn đề quan trọng của cuộc bầu cử đã phần nào làm giảm đi vị trí vai trò của HĐBCQG trong bộ máy nhà nước là một cơ quan ở tầm hiến định, cũng như làm giảm đi tính độc lập, vai trò quyết định, chỉ đạo công tác bầu cử của HĐBCQG.
-         Về kinh phí hoạt động:
Kinh phí hoạt động của HĐBCQG được quy định tại Khoản 3 Điều 19 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015:“Kinh phí hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia do ngân sách nhà nước bảo đảm”.
Quy định này là phù hợp với vị trí là cơ quan hiến định, độc lập trong mối tương quan với các cơ quan khác như Chính phủ, Tòa án, ... của HĐBCQG. Tuy nhiên, HĐBCQG vẫn chưa thực sự độc lập, tự quyết đối với ngân sách nhà nước khi quy định Chính phủ tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm kinh phí, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí tổ chức bầu cử (Khoản 4 Điều 4 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015). Quy định này đã phần nào hạn chế sự độc lập đối với HĐBCQG.
Vì vậy, để bảo đảm tính độc lập và thực quyền của HĐBCQG ở nước ta, cần quy định cụ thể về nguồn kinh phí tài chính mà HĐBCQG có thể sử dụng nhưng không phụ thuộc vào các cơ quan hành chính như hiện nay. Nhưng căn cứ vào điều kiện đặc thù ở nước ta thì cần phải kết hợp với điều kiện nguồn kinh phí của HĐBCQG do Quốc hội quyết định.
- Về thời điểm kết thúc nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử Quốc gia:
Thời điểm kết thúc nhiệm vụ của HĐBCQG được quy định tại Điều 20 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015: “Hội đồng bầu cử quốc gia kết thúc nhiệm vụ sau khi đã trình Quốc hội khóa mới báo cáo tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước và kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội được bầu, bàn giao biên bản tổng kết và hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội cho UBTV Quốc hội khóa mới.”
Đây thực chất là sự kế thừa thời điểm kết thúc nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử ở trung ương trong các giai đoạn trước. Với quy định này đã bảo đảm được tính ổn định, kế thừa trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG. Tuy nhiên lại thể hiện sự thiếu đổi mới, chuyên nghiệp, độc lập để thực hiện công tác bầu cử, khó ứng phó khi có công việc phát sinh như bầu cử bổ sung đại biểu giữa nhiệm kỳ... Do đó, tại Điều 90 luật này đã quy định việc thành lập Hội đồng bầu cử bổ sung có nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng với các quy định của Luật này về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG. Quy định này tuy giải quyết được công việc phát sinh trước mắt nhưng có thể thấy, Hội đồng bầu cử bổ sung hoạt động mang tính lâm thời, thiếu chuyên nghiệp khi được thành lập trong trường hợp này, đây cũng là sự kế thừa về tính chất của Hội đồng bầu cử ở trung ương trong các giai đoạn trước.
Như vậy, có thể thấy, nhìn một cách tổng thể các văn bản luật (Luật Tổ chức Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015) đã cụ thế, chi tiết các quy định của Hiến pháp 2013 để tổ chức, bầu cử Quốc hội, HĐND khóa, nhiệm kỳ này. Tuy vậy, rất dễ nhận thấy, nhiều quy định của các luật nói trên đã vô tình làm mất đi vị trí của một thiết chế hiến định độc lập, đặc biệt nhiều quy định còn có xu hướng làm giảm đi vị trí của thiết chế này so với tinh thần của Hiến pháp về vị trí, vai trò của HĐBCQG như là một thiết chế hiến định độc lập. Bên cạnh đó, nhiều quy định trong các đạo luật trên dường như không có nhiều thay đổi so với cơ quan phụ trách bầu cử trước đây khi chưa là một thiết chế hiến định độc lập. Rõ ràng, việc xây dựng các quy định thi hành Hiến pháp về HĐBCQG đang có những vấn đề cần được nhìn nhận, đánh giá lại một cách khách quan, công bằng và chuẩn xác hơn để trả lại đúng vị trí, tầm vóc của HĐBCQG trong Hiến pháp.

2.2. Một vài đánh giá thực tiễn thi hành


Hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG nhằm triển khai quy định của Hiến pháp năm 2013 trong thời gian qua ở nước ta được thể hiện trên một số phương diện sau:
Thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, tại Điều 117 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định HĐBCQG, đây là bước ngoặt mang tính lịch sử trong hoạt động xây dựng pháp luật về HĐBCQG
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Điều 117 về cơ quan HĐBCQG, quy định về cách thức thành lập, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, sau đó đến năm 2015 mới được luật hóa về tổ chức và hoạt động trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015. Tuy nhiên, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG đã bộc lộ rõ hạn chế khi quy định tổ chức và hoạt động của HĐBCQG trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015, bởi về nguyên tắc, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND được coi là luật hình thức vì quy định về quy trình, thủ tục bầu cử vào cơ quan dân cử; trong khi đó, những quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG sẽ thuộc về luật nội dung. Việc gộp cả hai nhóm quy định vào trong một văn bản luật sẽ không bảo đảm tính hợp lý, rõ ràng, minh bạch của văn bản luật, thiếu sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Thứ ba, mặc dù pháp luật đã quy định về bộ máy giúp việc của HĐBCQG, tuy nhiên, việc Quốc hội giao cho UBTVQH ban hành Nghị quyết số 1074/2015/UBTVQH13 ngày 11/12/2015 quy định về bộ máy giúp việc của HĐBCQG cũng là chưa hợp lý, hợp pháp, bởi một một văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của cơ quan độc lập ở tầm hiến định như HĐBCQG là thuộc thẩm quyền của Quốc hội ban hành (Luật hoặc ít nhất là Nghị quyết của Quốc hội; có chăng được sự ủy quyền của Quốc hội thì là Pháp lệnh của UBTVQH).
Thứ tư, đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG chưa có kinh nghiệm trong đánh giá thực trạng các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của HĐBCQG, hạn chế trong chuyên môn do thực tiễn tổ chức và hoạt động của cơ quan này trên thực tế là mới thành lập. Ở những giai đoạn trước đó, tổ chức phụ trách bầu cử ở nước ta hoạt động mang tính lâm thời nên những cán bộ trực tiếp tham gia vào tổ chức đó cũng chưa thể tích lũy đủ kinh nghiệm trong hoạt động xây dựng pháp luật. Ngoài ra, hiện nay, các thành viên của HĐBCQG cũng hoạt động mang tính kiêm nhiệm, vì vậy khó có thể tập trung vào công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ trong công tác bầu cử được, dẫn đến hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG chưa được sát với thực tiễn, dẫn đến còn nhiều bất cập trong những quy định của pháp luật hiện hành.
Thứ năm, hiện nay, các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG còn nằm rải rác ở nhiều văn bản với nhiều loại khác nhau, chưa có sự thống nhất đồng bộ. Trên thực tế khi tổ chức và hoạt động của HĐBCQG gặp khó khăn thì ngay sau đó sẽ có một văn bản pháp luật được ban hành ra nhằm điều chỉnh. Điều đó dẫn đến tổ chức và hoạt động của HĐBCQG trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến tính khách quan, minh bạch và dân chủ trong tổ chức bầu cử.
Thứ sáu, về quy trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG cũng chưa cụ thể, tức chưa có kế hoạch trong xây dựng, trong hoàn thiện pháp luật mà hoạt động này còn mang tính tự phát.
3. Phương hướng và một số đề xuất
3.1. Phương hướng, quan điểm
Hiện nay, tổ chức và hoạt động của HĐBCQG được quy định tại Điều 117 Hiến pháp năm 2013 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015. Tuy nhiên, để bảo đảm HĐBCQG là cơ quan ở tầm Hiến định cũng như bảo đảm tính độc lập, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện quyền làm chủ của người dân, cần nghiên cứu xác định văn bản pháp lý nào quy định cụ thể, chi tiết về tổ chức và hoạt động của cơ quan này - Xây dựng Luật tổ chức Hội đồng bầu cử quốc gia hay sửa đổi Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015?
Điều 117 Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định khái quát về HĐBCQG ở các khía cạnh: cơ quan thành lập, nhiệm vụ, cơ cấu thành viên của HĐBCQG, còn các nội dung khác được trao cho Luật định. Quy định này mặc dù mang tính khái quát, chưa thể hiện vị trí tương xứng với các cơ quan hiến định khác như Chính phủ, TAND, Viện KSND... nhưng đây được xem là một quy định “mở” nhằm bảo đảm tính ổn định của Hiến pháp cũng như khả năng linh hoạt trong điều chỉnh các quy định của Luật, linh hoạt khi cần sửa đổi bổ sung đối với các nội dung liên quan đến tổ chức và hoạt động của HĐBCQG phù hợp với thực tiễn.
Hiện nay, tổ chức và hoạt động của HĐBCQG được quy định tập trung nhất tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015. Tuy nhiên, việc đưa những quy định cụ thể, chi tiết về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG vào Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND tỏ ra không hợp lý, bởi về nguyên tắc, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND được coi là luật hình thức vì quy định về quy trình, thủ tục bầu cử vào cơ quan dân cử; trong khi đó, những quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG sẽ thuộc về luật nội dung. Việc gộp cả hai nhóm quy định vào trong một văn bản luật sẽ không bảo đảm tính hợp lý, rõ ràng, minh bạch của văn bản luật. Vì vậy, về lâu dài, để bảo đảm tính hợp lý, rõ ràng, minh bạch của văn bản luật, bảo đảm phù hợp với tính chất của HĐBCQG là cơ quan hiến định, Quốc hội cần ban hành văn bản luật riêng quy định về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG. Sau khi có Luật Tổ chức HĐBCQG sẽ tiến đến sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015 để bảo đảm tính thống nhất về mặt nội dung của Luật cũng như hệ thống pháp luật nước ta.
Có ý kiến cho rằng, đây là thiết chế mới, chưa có tiền lệ trong thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, với một cơ quan mới thành lập, chưa có kinh nghiệm nên trước mắt chỉ cần Quốc hội ủy quyền cho UBTVQH ban hành Pháp lệnh quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐBCQG như Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 mà sau này mới nâng lên thành Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo tác giả phương án này sẽ bộc lộ hạn chế đó là giảm tính độc lập, vị trí là cơ quan Hiến định, vai trò bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của người dân cũng như tăng tính phụ thuộc của HĐBCQG đối với UBTVQH. Bởi lẽ HĐBCQG là cơ quan do Quốc hội thành lập nhưng Quốc hội lại ủy quyền của mình cho UBTVQH ban hành một văn bản quy phạm pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG.
Vì vậy, để bảo đảm vị trí, vai trò cũng như sự thống nhất trong hệ thống pháp luật, theo tác giả cần thiết phải có một Luật riêng với tên gọi “Luật tổ chức Hội đồng bầu cử quốc gia” quy định về tổ chức và hoạt động, về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể, về những điều kiện bảo đảm cho HĐBCQG hoạt động có hiệu quả và chất lượng như các Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Viện KSND, Luật tổ chức TAND, Luật tổ chức Chính phủ, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật chính quyền địa phương, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, và tới đây có lẽ cả Luật Chủ tịch nước.
Ngoài ra, theo quan điểm của chúng tôi, khi xây dựng các quy định cụ thể hóa Hiến pháp, Quốc hội cần xem xét đến vị trí hiến định độc lập và ý nghĩa của chế định này. Rõ ràng không thể có tư duy “bình mới rượu cũ” trong thi hành các quy định của thiết chế hiến định quan trọng này. Có thể chưa có luật cụ thể hóa nhưng không thể có luật làm cho vị trí của nó “tệ” hơn so với tinh thần của Hiến pháp mới với nhiều quy định, tư tưởng hết sức tiến bộ.
3.2. Đề xuất cụ thể xây dựng “Luật Tổ chức Hội đồng bầu cử Quốc gia”
Thứ nhất, quy định vị trí, chức năng của HĐBCQG trong bộ máy nhà nước
Để bảo đảm HĐBCQG là một cơ quan ở tầm hiến định, độc lập với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước thì yếu tố quan trọng nhất đối với cơ quan này đó là quy định cụ thể về vị trí và chức năng. Bầu cử là một hoạt động chính trị - pháp lý, liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân nên rất cần được tổ chức một cách dân chủ, minh bạch, công bằng bởi một cơ quan có đủ vị thế và quyền hạn cụ thể trong bộ máy nhà nước. Do đó, HĐBCQG muốn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý, tổ chức các cuộc bầu cử của mình thì cần phải có vị trí độc lập với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước cũng như phân định rõ chức năng của mình, không chịu sự ràng buộc, chi phối bởi bất kỳ cơ quan nào khác. Quốc hội có thể bầu ra, tuy nhiên, HĐBCQG cần có vị trí độc lập với Quốc hội bởi chính nó sẽ bầu ra Quốc hội mới. Qua đó một mặt khẳng định HĐBCQG là cơ quan Hiến định có tính chất độc lâp, được phân công chức năng cụ thể, một mặt tạo sự thống nhất với các cơ quan Hiến định khác khi được quy định cụ thể, chi tiết trong các “Luật tổ chức”. Cụ thể:
Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan tổ chức bầu cử cao nhất của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp.
Hội đồng bầu cử quốc gia chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, UBTV Quốc hội”.
Thứ hai, quy định về cơ cấu tổ chức và thành viên của HĐBCQG
Quy định số lượng thành viên ít hơn con số 21 như quy định hiện nay cụ thể là “9 đến 15 người”[4] nhằm thuận lợi cho việc triệu tập họp, thảo luận, biểu quyết và đưa ra quyết định. Đồng thời, với sự phát triển nền dân chủ ở nước ta hiện nay cần bổ sung thêm thành viên là đại diện trung lập từ các tổ chức xã hội để thể hiện tính khách quan của HĐBCQG. Đặc biết, thành viên Hội đồng sẽ phải là những cá nhân không được nằm trong danh sách bầu cử đại biểu Quốc hội để tránh những quan ngại không cần thiết và phù hợp với các nguyên tắc dân chủ hiện đại.
Bên cạnh đó cần quy định về tiêu chuẩn của các thành viên HĐBCQG. Kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới chỉ ra rằng thành viên của HĐBCQG cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau: về độ tuổi, trình độ, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm công tác, hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, pháp luật, bầu cử...
Thứ ba, quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HĐBCQG
Hiện nay pháp luật mới chỉ quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HĐBCQG đó là làm việc theo tập thể và quyết định theo đa số. Nhưng tuy nhiên, để bảo đảm tính độc lâp của HĐBCQG cần bổ nguyên tắc: “Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc tổ chức bầu cử của HĐBCQG” (tương tự như Tòa án và Kiểm toán nhà nước).
Thứ tư, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG
Bổ sung, quy định một số nhiệm vụ, quyền hạn cho HĐBCQG trên cơ sở chuyển giao các nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH và Chính phủ theo quy định của các luật bầu cử hiện hành, nhằm tạo sự thống nhất, tập trung thẩm quyền giải quyết các công việc liên quan đến bầu cử và đại biểu về HĐBCQG.
Theo đó, cần sửa đổi bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG theo hướng mở rộng hơn, đặc biệt đối với việc chỉ đạo và hướng dẫn bầu cử đại biểu HĐND các cấp, cụ thể:
“1. Hội đồng bầu cử quốc gia có nhiệm vụ tổ chức, quản lý, giám sát, kiểm tra các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp.
2. Trong cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp, Hội đồng bầu cử quốc gia có nhiệm vụ, quyền hạn chung sau đây:
a, Quyết định tư cách bỏ phiếu của cử tri;
b, Tiếp nhận và phê duyết danh sách ứng cử;
c, Tổ chức bỏ phiếu;
d, Kiểm phiếu, thống kê phiếu;
đ, Giải quyết các khiếu nại, tranh chấp về bầu cử;
e, Tuyên bố kết quả bầu cử;
g, Các nhiệm vụ, quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết.
3. Quyết định và công bố bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội, tổ chức bầu cử bổ sung đại biểu HĐND; quyết định và công bố bầu cử bổ sung đại biểu HĐND các cấp, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử bổ sung đại biểu HĐND các cấp.
4. Hội đồng bầu cử quốc gia có quyền thông qua Nghị quyết, ban hành quyết định, quy chế, hướng dẫn để tổ chức, quản lý các cuộc bầu cử phù hợp với Hiến pháp và pháp luật. Các văn bản do Hội đồng bầu cử quốc gia ban hành có hiệu lực thi hành bắt buộc.”
Các nhiệm vụ, quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết” có thể bao gồm: Ban hành các chính sách bầu cử quốc gia; Lập kế hoạch phục vụ bầu cử; Đào tạo các nhân viên bầu cử; Tổ chức giáo dục và tuyên truyền cho cử tri và nhân dân; Phân định các đơn vị bầu cử; Lập kế hoạch và triển khai các phần mềm bầu cử; Xác minh và đăng ký cử tri; Phát triển và tổ chức đăng ký bầu cử quốc gia; Tổ chức đăng ký ứng cử viên của Đảng và ứng cử viên tự do; Tham gia vào quá trình hiệp thương bầu cử; Đào tạo các giám sát viên kiểm phiếu; Quy định và công nhận về sự tham gia của các nhóm xã hội dân sự, truyền thông, các quan sát viên bầu cử...[5]
Ngoài ra, có thể nghiên cứu về việc trao quyền tổ chức trưng cầu ý dân cho HĐBCQG theo quyết định của Quốc hội. Bởi lẽ, về bản chất các trình tự, thủ tục tổ chức trưng cầu ý dân được quy định có nhiều điểm tương đồng với trình tự, thủ tục tổ chức bầu cử Quốc hội và hai hoạt động này đều là hoạt động chính trị - pháp lý, là hình thức dân chủ trực tiếp. Hoạt động trưng cầu dân ý là một hoạt động phức tạp, quan trọng và cần đươc thực hiện một cách đồng bộ trên phạm vi cả nước và theo quy định của pháp luật hiện hành, UBTVQH là cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện theo quyết định của Quốc hội. Tuy nhiên, xu thế hiện nay, HĐBCQG là cơ quan hoạt động thường xuyên, chuyên trách, có vai trò bảo đảm cho hình thức dân chủ trực tiếp là bầu cử được thực hiện. Vì vậy cơ quan này có đủ điều kiện về tổ chức, nhân sự và kinh nghiệm triển khai một cách đồng bộ trên phạm vi cả nước như hoạt động tổ chức bầu cử. Đồng thời, việc trao thẩm quyền tổ chức trưng cầu ý dân cho HĐBCQG cũng góp phần giảm thiểu bớt khối lượng công việc cho UBTVQH, giúp cơ quan này tập trung hơn trong công tác thường trực cho Quốc hội. Tuy nhiên, đây chỉ là phương án lâu dài bởi để làm được điều này cần phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013.[6]
Thứ năm, quy định về nhiệm kỳ của HĐBCQG
Hiện nay, pháp luật quy định về thời điểm kết thúc nhiệm vụ của HĐBCQG, tuy nhiên quy định này chỉ phù hợp khi HĐBCQG hoạt động mang tính lâm thời. Còn đối với HĐBCQG là cơ quan Hiến định như hiện nay, theo tác giả cần nghiên cứu xem xét HĐBCQG hoạt động thường xuyên, theo nhiệm kỳ để có thể chuẩn bị cẩn trọng, chu đáo, chuyên nghiệp cho cuộc bầu cử cũng như kịp thời giải quyết các công việc phát sinh liên quan đến các đại biểu trong suốt nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội và HĐND các cấp. Song nếu quy định nhiệm kỳ của HĐBCQG trùng với nhiệm kỳ của Quốc hội sẽ gây khó khăn trên thực tế bởi công tác bầu cử được tiến hành từ cuối nhiệm kỳ của Quốc hội khóa cũ đến khi HĐBCQG báo cáo kết quả cuộc bầu cử tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa mới nên rất khó để xác định thời điểm bắt đầu, chấm dứt nhiệm vụ của HĐBCQG cũng như giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của các đại biểu như có khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo về quá trình bầu cử trước đó; hay bầu cử bổ sung... Ngược lại, nếu quy định nhiệm kỳ của HĐBCQG lệch với nhiệm kỳ của Quốc hội sẽ dẫn đến tình trạng khó khăn trong công tác quản lý cán bộ cũng như giảm tính khách quan khi Quốc hội khóa trước thành lập ra HĐBCQG để tổ chức bầu cử, quản lý đại biểu Quốc hội khóa sau.
Để khắc phục được những hạn chế trên, theo tác giả cần quy định nhiệm kỳ của HĐBCQG theo nhiệm kỳ của Quốc hội nhằm bảo đảm tính thống nhất của các cơ quan Hiến định trong bộ máy nhà nước nhưng đồng thời cần nghiên cứu thêm quy định về thời hạn bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với các thành viên của HĐBCQG. Mỗi thành viên có thể được bổ nhiệm với thời hạn là 5 đến 10 năm, có thể được bổ nhiệm lại, tuy nhiên, để đảm bảo hoạt động bình thường và liên tục của Hội đồng bầu cử, 1/3 số thành viên được thay thế 3 năm một lần.[7] Việc đan xen nhiệm kỳ giữa các thành viên hỗ trợ rất lớn cho việc duy trì kinh nghiệm tổ chức bầu cử cũng như sự chuyển giao trơn tru về lãnh đạo.[8]
4. Kết luận
Những quy định của Hiến pháp về HĐBCQG đã được thực thi, cụ thể hóa bằng các văn bản luật, dưới luật và thực tế đã được vận dụng để tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Dù các cuộc bầu cử đã được tổ chức thành công, tuy nhiên, nội dung các luật, văn bản dưới luật cụ thể hóa Hiến pháp 2013 về chế định HĐBCQG được cho là làm suy giảm vị trí của HĐBCQG với tư cách là một thiết chế hiến định độc lập. Các quy định của các văn bản luật dường như đã làm hẹp hơn tinh thần của Hiến pháp với một HĐBCQG không có quá nhiều điểm khác biệt so với các thiết chế phụ trách bầu cử trước đây. Điều này có lẽ là chưa hoàn toàn phù hợp với tinh thần chung của Hiến pháp 2013 về thiết chế này. Trong thời gian tới cần có những sửa đổi các quy định trong các luật, văn bản dưới luật hiện hành và xây dựng một “Luật tổ chức” về Hội đổng bầu cử quốc gia theo đúng vị trí, vai trò và tầm vóc vốn có của nó và phù hợp với xu hướng phát triển của Việt Nam hiện nay./.

Tài liệu tham khảo
1.      Hiến pháp năm 1946
2.      Hiến pháp năm 1959
3.      Hiến pháp năm 1980 
4.      Hiến pháp năm 1992
5.      Hiến pháp năm 2013
6.      Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1992
7.      Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997)
8.      Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND 2015.
9.      Luật Tổ chức Quốc hội 2014
10. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
11. Nghị quyết số 1074/2015/UBTVQH 13 ngày 11/12/2015 quy định về bộ máy giúp việc của HĐBCQG
12.   Nghị quyết số 1074/2015/UBTVQH13 ngày 11/12/2015 quy định về bộ máy giúp việc của HĐBCQG
13. Viện Nghiên cứu lập pháp - Chương trình phát triển Liên hợp quốc (2013), Mối quan hệ giữa Quốc hội và Hội đồng bầu cử quốc gia, Hà Nội.
14. Viện Nghiên cứu lập pháp, Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Hà Nội, năm 2013.
15. Viện Quốc tế về Dân chủ và Hỗ trợ bầu cử, Thiết kế Quản lý bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế, (2006). 
16. Quy chế làm việc của HĐBCQG ban hành ngày 19/12/2015.




[1] Điều 12 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND 2015.
[2] Điều 13 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND 2015.
[3] Xem Viện Nghiên cứu lập pháp - Chương trình phát triển Liên hợp quốc (2013), Mối quan hệ giữa Quốc hội và Hội đồng bầu cử quốc gia, Hà Nội, Tr. 53.
[4] Xem Viện Nghiên cứu lập pháp, Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Hà Nội, năm 2013, tr. 94.
[5] Xem Viện Quốc tế về Dân chủ và Hỗ trợ bầu cử, Thiết kế Quản lý bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế, (2006).  tr.63; Xem Viện Nghiên cứu lập pháp, Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Hà Nội, năm 2013, tr. 96.
[6] Khoản 13 Điều 74 Hiến pháp năm 2013 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH: Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.
[7] Xem Viện Nghiên cứu lập pháp, Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Hà Nội, năm 2013, tr. 95.
[8] Xem Viện Quốc tế về Dân chủ và Hỗ trợ bầu cử, Thiết kế Quản lý bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế, (2006). tr.93.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.