Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

CẤY GHÉP VÀ CHUYỂN HÓA PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 

GIỚI THIỆU SÁCH:
Sách chuyên khảo "Cấy ghép và chuyển hóa pháp luật tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế"

Đồng chủ biên:

PGS.TS. Nguyễn Văn Quân

PGS.TS. Mai Văn Thắng

NXB. Chính trị Quốc gia sự thật, 11/2025

Sách Nhà nước đặt hàng


Tham gia sâu vào quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết, đặc biệt là thách thức về hoàn thiện thể chế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Thể chế được coi là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, trong đó pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng, gắn với mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Để hội nhập thành công, cần xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, hiện đại, phù hợp với các chuẩn mực chung của nhân loại tiến bộ, đồng thời tương thích với đặc điểm riêng của đất nước. Vì vậy, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp lý, Việt Nam có thể chọn lọc, tiếp thu những tinh hoa pháp lý của các quốc gia để hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống pháp luật.

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2025

Tư duy phân chia luật công, luật tư và những tác động đến hiệu lực của quyền hiến định thuộc lĩnh vực luật tư trong bối cảnh mới

 

Ảnh: Internet

PGS.TS. Mai Văn Thắng
Nguồn: Tạp chí Khoa học, ĐHQGHN
Chuyên san Luật học: số 1/2025 (Vol 41)
Xem: https://js.vnu.edu.vn/LS/issue/view/583

Tóm tắt: Bài viết phân tích các khía cạnh lịch sử phát triển của tư duy phân chia luật công, luật tư, xem xét một số lý thuyết, quan điểm đánh giá tác động của các quyền hiến định trong lĩnh vực luật tư và trên cơ sở đó làm rõ một số vấn đề đặt ra, sự đổi mới tư duy phân loại luật công, luật tư trong bối cảnh mới. Đồng thời, bài viết cũng đưa ra một số gợi mở mang tính nhận thức về phân loại luật công, luật tư, về cấu trúc hệ thống pháp luật trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Luật công, luật tư, quyền hiến định, tác động, hiến pháp 

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2023

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Đặc trưng cơ bản và những phát triển mới

                                                                                                           

ảnh Internet

       TS. Mai Văn Thắng

       Tạp chí Kiểm sát số 09/2023


Tóm tắt: Bài viết phân tích làm sáng tỏ những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như là sự kế thừa những tư tưởng, giá trị phổ quát về nhà nước pháp quyền. Bên cạnh đó, trên cơ sở phương pháp luận duy vât biện chứng và duy vật lịch sử, tiếp cận liên ngành và các phương pháp so sánh, phân tích quy phạm, bài viết chứng minh làm rõ những phát triển mới mang tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới

Từ khóa: Nhà nước pháp quyền XHCN; đặc trưng; phát triển mới; Việt Nam; Nghị quyết 27.

1. Dẫn nhập

Ngày 09 tháng 11 năm 2022, Hội nghị lần thứ sáu của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII đã ban hành Nghị quyết 27/NQ-TW về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết 27).[1] Tại Nghị quyết này, lần đầu tiên ở một băn bản chính thức của Đảng đã thống nhất nhận thức các đặc điểm của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Đây là cơ sở chính trị-pháp lý quan trọng định hướng hoàn thiện, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong giai đoạn mới.

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2022

CHẾ ĐỘ KINH TẾ, CHÍNH SÁCH VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM

 

ảnh internet

TS. Mai Văn Thắng
Khoa Luật, ĐHQGHN

Viết cho sách chuyên khảo:

"書名:打開越南法律之窗"

(Tả Khai Việt Nam Pháp Lý Chi Song 

(Mở cánh cửa pháp luật Việt Nam)). 

NXB. Angel Publishing (Taiwan), 2022.

(Dưới đây là một nội dung nhỏ của cuốn sách khi chưa gửi NXB, phiên bản Tiếng Việt).

Tóm tắt: Trong chương này, tác giả giới thiệu tổng quan về tiến trình phát triển và các nội dung cơ bản của chế độ kinh tế, chính sách văn hóa, xã hội và bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp Việt Nam. Trên cơ sở đó, bằng các phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp so sánh, tác giả tập trung phân tích, bình luận các quy định, một số điểm mới cơ bản về: (1) chế độ kinh tế, (2) chính sách văn hóa và xã hội, (3) bộ máy nhà nước. Trên cơ sở phân tích bối cảnh, đường lối, chính sách phát triển đất nước đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định trong Cương lĩnh Chính trị và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII để đưa ra những đánh giá, nhận định về xu hướng phát triển liên quan đến các nội dung trên và giúp người đọc nhận thức đầy đủ hơn về các vấn đề (1), (2), và (3) nêu trên trong thực tiễn đời sống chính trị - pháp lý đặc thù của Việt Nam.

Bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: cơ hội mới, tính phổ quát và tính đặc thù

 

ảnh internet

TS. Mai Văn Thắng

Khoa Luật, ĐHQGHN

(Bài viết tham dự Hội thảo tại HLU, 2022)

Tóm tắt: Bảo hiến là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của nhà nước pháp quyền. Thiếu vắng cơ chế bảo hiến chuyên nghiệp và độc lập thì khó có thể bảo vệ được hiến pháp với tư cách luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Việt Nam tiếp nhận phương thức tổ chức quyền lực kiểu Xô Viết, vì vậy, việc xây dựng và vận hành cơ chế bảo hiến chuyên nghiệp, độc lập như ở các quốc gia phương Tây gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, cùng với những điểm mới quan trọng của Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, trong đó có Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, cơ hội mới cho một mô hình, cơ chế bảo hiến tập trung, tương đối độc lập và chuyên nghiệp đang được mở ra. Bằng các phương pháp chủ yếu như phân tích quy phạm, so sánh, bài viết tập trung làm rõ hơn những cơ hội đó, đồng thời phân tích các đặc thù của mô hình, cơ chế bảo hiến Việt Nam trong mối tương quan với các chuẩn mực phổ quát và đưa đến kết luận về mô hình, cơ chế bảo hiến phù hợp qua đó góp phần quan trọng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.

Từ khóa: Bảo hiến, Nhà nước pháp quyền XHCN, cơ hội, tính phổ quát, tính đặc thù, Hiến pháp

Hiến pháp pháp quyền và những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

ảnh internet

 TS. Mai Văn Thắng

Khoa Luật, ĐHQGHN

Bài viết tham dự Hội thảo

TP. Huế, 2021


Tóm tắt

 Bài viết tập trung nhận diện, đánh giá, phân tích các tiêu chuẩn của một bản Hiến pháp pháp quyền. Hiến pháp pháp quyền không phải là một bản hiến pháp đơn thuần, mà phải là trụ cột và sự bảo đảm cho tính thượng tôn của pháp luật trong đời sống xã hội, là cơ sở pháp lý tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền. Bằng các phương pháp chính như so sánh, phân tích quy phạm, bài viết sẽ nhận diện Hiến pháp năm 2013 từ góc độ của Hiến pháp pháp quyền và trên cơ sở đó, đồng thời đặt trong bối cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam, tác giả đưa ra một số khuyến nghị góp phần hoàn thiện nhà nước pháp quyền và hệ thống pháp luật trong nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.

 Từ khóa: Hiến pháp pháp quyền, nhà nước pháp quyền, bảo hiến, hệ thống pháp luật, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Nhận thức về bản chất nhà nước hiện đại vì mục tiêu xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

ảnh internet
 TS. Mai Văn Thắng
 Khoa Luật, ĐHQGHN

Bài viết tham luận tại Hội thảo khoa học
cấp Bộ tại Trường Đại học Luật HN
tháng 11/2020 được tổ chức bởi
Khoa Luật, ĐHQGHN và Trường ĐHLHN

Tóm tắt

Nhà nước là hiện tượng kiến trúc thượng tầng vì vậy luôn biến đổi cùng với sự thay đổi của đời sống kinh tế-xã hội. Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin và phương pháp so sánh, bài viết tập trung làm rõ những thay đổi của xã hội hiện đại và sự chuyển dịch của bản chất nhà nước hiện đại theo hướng pháp quyền, dân chủ như là một hệ quả tất yếu. Nhận diện đúng đắn, khách quan bản chất của nhà nước hiện đại là một trong những điều kiện quan trọng góp phần xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Bản chất nhà nước, Nhà nước pháp quyền, dân chủ, Việt Nam

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2021

Vài lời về hai chữ "THI ĐUA"

Mai Văn Thắng

Khoa Luật, ĐHQGHN
 

Sau khi UBTVQH đưa Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa này, tôi xin có đôi lời bàn về nguồn gốc và bối cảnh của cái gọi là phong trào thi đua. Thi đua đúng, phù hợp trong một mô hình xã hội được tổ chức kiểu khác và đã lùi vào quá khứ. Giờ xã hội đã đã khác đi, thi đua có lẽ đã hết sứ mệnh lịch sử của mình. Nếu vẫn dùng hai chữ Thi đua, xin cho nó một nội hàm và một cách thức tiến hành phù hợp và khoa học hơn để hiệu quả và đúng là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.

Phong trào “Thi đua” xuất hiện và phát triển như vũ bảo trong nền kinh tế kế hoạch bao cấp theo mô hình Xô Viết. Vì ở đó, gần như không có cạnh tranh, ít lợi ích kinh tế nên động lực làm việc bị hạn chế nếu không có cách nào đó hối thúc người ta làm việc.

Nhưng nhà nước thì cần mọi cá nhân, đơn vị phải hăng say lao động, sản xuất, sáng tạo, tạo ra của cải vật chất, chiến đấu, cải tạo xã hội…để tiến tới CNXH và cuối cùng là CNCS.

Vậy làm thế nào?

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2021

Nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật Liên bang Nga: Lịch sử, hiện trạng và những vấn đề thực tiễn đặt ra

 

Gorsky Vadim Vadimovich,

Gorsky Maxim Vadimovich,

Mai Văn Thắng

Nguồn: Tạp chí Nhà nước và pháp luật

Số 2, 2021

Tóm tắt: Bài viết phân tích tiến trình phát triển của nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong pháp luật nước Nga từ giữa thế kỷ XIX đến nay. Đồng thời, bài viết cũng làm rõ hiện trạng, nội hàm và một số vấn đề phát sinh liên quan đến thực tiễn áp dụng nguyên tắc này trong bối cảnh ngày càng nhiều những phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại được áp dụng để xử lý các vi phạm pháp luật. Trong đó, bài viết đặc biệt nhấn mạnh đến những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ chứng minh như là một nội dung quan trọng của nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật Liên bang Nga hiện nay. 

Abstract: The paper analyzes the development of the connotation of previous regulations that later became the "Presumption of Innocence" principle in Russian law from the mid-nineteenth century to the present. Simultaneously, the paper also clarifies the current situation, connotation, and issues related to the practical application of the "Presumption of Innocence" principle in the context of modern technologies being applied increasingly to handle law violations. In particular, the paper specifically emphasizes issues related to the burden of proof as an important content of the "Presumption of Innocence" principle in the current legal system of the Russian Federation.

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2021

Phòng, chống tham nhũng trong bối cảnh phát triển Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư ở Việt Nam hiện nay: Cơ hội, thách thức và một số vấn đề đặt ra

ảnh: internet
TS. Mai Văn Thắng
Khoa Luật, ĐHQGHN
ThS.NCS. Trịnh Thăng Quyết
NCS. Trường ĐH Luật Hà Nội
Nguồn: Bài viết Hội thảo khoa học quốc tế
"Quản trị tốt và phòng, chống tham nhũng: 
Cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên số"
Hà Nội, tháng 10 năm 2020 

Bài viết này được chúng tôi chuẩn bị để công bố trên Hội thảo khoa học quốc tế do Khoa Luật phối hợp với Trung tâm Tư pháp Hình sự và Nhân quyền thuộc Trường Luật thuộc Đại học Cork (Ireland) và Trường Luật, Chính trị và Xã hội học, Đại học Sussex (Anh) tổ chức vào các ngày 27 và 28 tháng 10 năm 2020 bằng hình thức bán trực tuyến (trực tuyến trên nền tảng ứng dung Zoom).

Trân trọng giới thiệu cho những ai quan tâm./.

Tóm tắt: Phòng, chống tham nhũng (PCTN) là một trong những chính sách lớn, quyết tâm chính trị mạnh mẽ nhất của Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam hiện nay. Tuy vậy pháp luật, cơ chế, biện pháp phòng, chống tham nhũng hiện nay Việt Nam được cho là chưa thích ứng với sự phát triển và những quyết sách lớn thể hiện quyết tâm đi trước, đón đầu những thành tựu của cuộc CMCN 4.0. Rõ ràng, việc chưa nhận diện, dự liệu đầy đủ cho một bối cảnh xã hội như thế sẽ làm cho công cuộc phòng, chống tham nhũng của Việt Nam thiếu hiệu quả, thiếu tính hiện đại, bền vững và đặc biệt sẽ bỏ lỡ cơ hội tận dụng CMCN 4.0 kiến tạo cơ chế hữu hiệu phòng, chống tham nhũng của Việt Nam trong bối cảnh các cơ chế khác chưa phát huy hiệu quả ở nước ta. Vì vậy, việc phân tích, nhận diện những cơ hội, thách thức mà CMCN 4.0 đã và có thể đem đến cho công cuộc PCTN của Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi trên cơ sở đó có thể đưa ra những đề xuất, giải pháp phù hợp góp phần hoàn thiện pháp luật, cơ chế, biện pháp giúp công cuộc phòng, chống tham nhũng ở nước ta phù hợp hơn với bối cảnh mới, hiệu quả và thành công bền vững như mong đợi.

Từ khóa: Phòng, chống tham nhũng; CMCN.40; Việt Nam; cơ hội; thách thức.

Phòng, chống xung đột lợi ích trong lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Liên bang Nga năm 2020 và một số gợi mở cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

 

ảnh internet
TS. Mai Văn Thắng
Khoa Luật, ĐHQGHN;
Ms. Mai Thị Kim Oanh
Trường Đại học Công nghiệp Việt Hung
Nguồn:Tham luận tại Hội thảo khoa học
Tháng 9 năm 2020 tại ĐHQGHN

Bài viết này chúng tôi viết và trình bày tại Hội thảo khoa học với chủ đề "Pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ trên thế giới và ở Việt Nam" vào tháng 9 năm 2020 do Khoa Luật, ĐHQGHN phối hợp với Viện Nghiên cứu lập pháp (UBTVQH) và Học viện Hành chính quốc gia tổ chức.
Trân trọng giới thiệu cho những ai quan tâm./.

1. Dẫn nhập

Theo Từ điển Cambridge, xung đột lợi ích (conflict of interest) là tình huống mà trong đó một người nào đó đó không thể đưa ra được quyết định công bằng vì kết quả có thể bị ảnh hưởng bới cá nhân của người đó.[2]

Còn theo OECD, xung đột lợi ích là xung đột giữa công vụ và lợi ích cá nhân của quan chức, trong đó lợi ích có được từ vị thế cá nhân của quan chức có thể gây ảnh hưởng không đúng đến việc thực hiện những nhiệm vụ và trách nhiệm chính thức của họ.[3] Theo đó, “lợi ích cá nhân” không chỉ gồm lợi ích tài chính mà còn bao gồm những lợi ích trực tiếp khác, chẳng hạn như tư cách cá nhân hoặc các mối quan hệ, các khoản nợ hoặc các nghĩa vụ khác, các hội nhóm tôn giáo hoặc dân tộc, quan hệ nghề nghiệp và đảng phái chính trị, cũng như lợi ích gia đình – tất cả đều có thể nằm trong phạm vi của lợi ích cá nhân nếu như chúng ảnh hưởng đến việc hoàn thành đúng đắn các nhiệm vụ được giao của quan chức.[4]

Trình tự công bằng trong pháp luật Liên bang Nga: Nhận thức và nội dung cốt lõi


 TS. Mai Văn Thắng

Khoa Luật, ĐHQGHN

Nguồn: Chuyên san Luật học

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, số 36/2020

DOI: https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4330

Tóm tắt: Bài viết luận giải vì sao ở Nga không phổ biến thuật ngữ “due process of law”, nhưng nhận thức, nội dung, các yêu cầu của nguyên tắc ấy vẫn được thể hiện tương đối đầy đủ, toàn diện trong hệ thống pháp luật hiện nay dưới tên gọi khác với nhiều cấp độ, hình thức thể hiện, bảo đảm khác nhau. Qua phân tích trường hợp ở Nga, tác giả muốn khẳng định rằng, trình tự công bằng không nên chỉ dừng lại ở các quy trình, thủ tục tố tụng trước phán quyết/quyết định của cơ quan xét xử, mà còn cần cho cả quy trình, thủ tục thi hành các bản án, phán quyết của tòa án, cần cho các thủ tục, quy trình xử lý vi phạm bởi các chủ thể khác không phải là tòa án và hơn tất cả, để ý nghĩa, mục tiêu cao đẹp của trình tự công bằng đạt được rất cần dung dưỡng “hệ sinh thái” phù hợp với với nó.

Từ khóa: Trình tự công bằng, Liên bang Nga, Hiến pháp, các hình thức tố tụng

 Đọc toàn văn tại đây: https://js.vnu.edu.vn/LS/article/view/4330

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2019

GIỚI THIỆU SÁCH "THI HÀNH HIẾN PHÁP 2013: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA"


 Giới thiệu sách tham khảo
"Thi hành Hiến pháp 2013:
Thực trạng và những vấn đề đặt ra"
NXB. CTQGST, 2019
Đồng chủ biên:
Nguyễn Thị Quế Anh
Vũ Công Giao
Nguyễn Hoàng Anh
Mai Văn Thắng
Trong khuôn khổ Chương trình Thạc sĩ “Pháp luật về Quản trị nhà nước và phòng, chống tham nhũng”, ngày 28/9/2018, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Đánh giá 05 năm thi hành Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013”.
Hội thảo đã thu hút hàng trăm chuyên gia, nhà khoa học tham gia với hơn 40 tham luận đánh giá những thành tựu nổi bật của 5 năm thi hành Hiến pháp 2013 từ nhiều góc độ, trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Các đại biểu tham dự hội thảo cũng thảo luận, chia sẻ quan điểm về những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp khoa học nâng cao hiệu quả thi hành Hiến pháp 2013 trong giai đoạn tới.

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2019

GIỚI THIỆU SÁCH "TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VỚI PHÁP LUẬT VÀ QUYỀN CON NGƯỜI"


Giới thiệu Sách tham khảo:
"Trí tuệ nhân tạo với pháp luật và quyền con người"
Nguyễn Thị Quế Anh, 
Vũ Công Giao, 
Mai Văn Thắng
(Đồng Chủ biên)
NXB. Tư pháp, 2019.

Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence-AI) không còn chỉ là chủ đề của những thước phim khoa học viễn tưởng mà đã hiện hữu và dần trở nên phổ biến trong thế giới thực mà con người đang sống. Là một trong những yếu tố cơ bản của Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư (CMCN 4.0), trí tuệ nhân tạo đã, đang phát triển mạnh mẽ và tác động đến gần như mọi khía cạnh của đời sống xã hội.
Để nhận diện rõ hơn những tác động của trí tuệ nhân tạo và những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực pháp luật và quyền con người, trong khuôn khổ hỗ trợ của Đại Sứ quán Úc thông qua Aus4Skills dành cho Chương trình Thạc sĩ Pháp luật về Quyền con người, ngày 28 tháng 5 năm 2019, Khoa Luật- ĐHQGHN đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Trí tuệ nhân tạo và những vấn đề đặt ra với pháp luật và quyền con người”.

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2019

TRÁCH NHIỆM HIẾN PHÁP TRONG BỐI CẢNH CẢI CÁCH PHÁP LUẬT VÀ NHU CẦU KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY



Nguồn ảnh: internet
Mai Văn Thắng
Khoa Luật, ĐHQGHN
Nguồn: Tạp chí Luật học
Trường Đại học Luật Hà Nội
Số 5 (228)/2019
Tóm tắt: Bài viết luận giải sự cần thiết thừa nhận trách nhiệm hiến pháp như là loại trách nhiệm pháp lí ở Việt Nam hiện nay. Trách nhiệm hiến pháp, một mặt góp phần khoả lấp những khoảng trống, bất cập của lí luận pháp luật, làm tường minh ranh giới giữa trách nhiệm pháp lí và trách nhiệm chính trị, giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trong thực tiễn, mặt khác, góp phần quan trọng hoàn thiện mô hình, phương thức tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam theo định hướng pháp quyền, dân chủ, thúc đẩy phân quyền và đặc biệt hỗ trợ đắc lực trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam.
Từ khóa: Cải cách pháp luật; kiểm soát quyền lực; trách nhiệm hiến pháp.

CONSTITUTIONAL LIABILITY IN THE CURRENT CONTEXT OF LEGAL REFORM AND THE NEED
FOR CONTROLLING STATE POWER IN VIETNAM
Abstract: The article argues for the necessity of recognising constitutional libalibity as a legal liability in Vietnam. Constitutional liability, on the one hand, fills the gaps and shortcomings in legal theory, clarifies the boundary between legal liability and political liability, and thus resolving various problems arising in practice; on the other hand, it greatly contributes to improving the models and methods of organising state power in Vietnam in adherence to the rule of law and democracy orientation, thereby enhancing power separation and especially assisting in the process of state power control in Vietnam.
Key words: Constitutional liability, Power control, Constitutional violation, Legal liability

CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI QUYỀN CON NGƯỜI



Nguồn ảnh: Internet
Mai Văn Thắng
Khoa Luật, ĐHQGHN
Hà Nội, tháng 5/2019

1. Dẫn nhập
Trí tuệ nhân tạo đang hiện hữu, dần trở phổ biến trong thế giới thực của con người. Những lợi ích mà TTNT đem lại là vô cùng to lớn, nhưng cùng với đó là những mối đe dọa, những thách thức con người đang và có thể sẽ phải đối diện. Nhà vật lý học người Anh, Stephen Hawking từng nói: “TTNT có thể là một sự kiện (tốt) lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Hoặc nó có thể là một sự kiện tồi nhất. Chúng ta vẫn chưa biết”.[1] Đã có nhiều quan ngại sâu sắc về sự xuất hiện của TTNT, trong đó thậm chí có nhiều nghiên cứu bàn về khả năng TTNT sẽ là mối nguy cơ cho sự tồn vong của loài người.[2]
Dù muốn hay không TTNT đã, đang hiện diện và sẽ tiếp tục phát triển như một hiện tượng khách quan. Những lợi ích, tiện ích của nó hấp dẫn đến mức các doanh nghiệp dưới sức ép của sự tồn vong, lợi nhuận, cạnh tranh sẽ áp dụng nó dù các chính phủ có hậu thuẫn, phát triển TTNT hay không. Các chính phủ cũng khó đứng ngoài cuộc bởi “Nếu ai đó nắm độc quyền về lĩnh vực TTNT, thì như tất cả chúng ta đều rõ – người đó sẽ làm chủ thế giới”.[3]
Trong lĩnh vực quyền con người, các nghiên cứu gần đây chủ yếu dẫn, phân tích các tác động tiêu cực, những thách thức với pháp luật và quyền con người khi TTNT xuất hiện và phát triển. Đó là thách thức về sự công bằng, bình đẳng xã hội,[4] những vấn đề đặt ra với lao động, việc làm, an ninh cá nhân, an ninh, chủ quyền quốc gia, quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân… Những lo lắng, dự báo này là hoàn toàn có cơ sở và thực tế đã diễn ra ở nhiều cấp độ, quy mô, phạm vi khác nhau.

KINH NGHIỆM XÂY DỰNG NỀN QUẢN TRỊ THÔNG MINH CỦA CHÍNH QUYỀN MÁT-X-CƠ-VA (NGA) VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM HIỆN NAY


Nguồn ảnh: Internet

Mai Văn Thắng

Khoa Luật, ĐHQGHN
Tham luận tại Hội thảo khoa học:
"Các tiêu chuẩn, kinh nghiệm quốc tế về 
quản trị công và những giá trị tham khảo 
cho Việt Nam"
Khoa Luật, ĐHQGHN -3/2019

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả đi tìm câu trả lời tại sao nước Nga với nền quản trị công tương đối lạc hậu trước kia lại có những bước tiến khá nhanh trong thời gian gần đây. Những thành tựu bước đầu trong việc xây dựng hệ thống chính quyền điện tử, thông minh và hiện đại ở Nga có mối liên hệ nào hay không với việc Mát-x-cơ-va được Tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế công nhận là thành phố có mức độ phát triển đô thị thông minh hàng đầu thế giới năm 2018? Tại sao lại là Mát-x-cơ-va và thành phố ấy đã làm như thế nào để có được những thành tựu đó? Có mối liên hệ nào hay không giữa việc xây dựng thành phố thông minh và thành tựu trong phát triển nền quản trị thông minh, hiện đại ở Mát-x-cơ-va và nước Nga? Bài viết cũng tập trung phân tích kinh nghiệm của Mát-x-cơ-va trong lựa chọn con đường, cách thức tiếp cận xây dựng nền quản trị thông minh từ chương trình thành phố thông minh và đưa ra những đánh giá, khuyến nghị, gợi mở để vận dụng hoàn thiện, đổi mới hệ thống quản trị công ở nước ta trong điều kiện hiện nay.
Từ khóa: Thành phố thông minh, quản trị thông minh, Mát-x-cơ-va, kinh nghiệm.

THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP 2013 VỀ HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA

ảnh: Internet

                Thái Doãn Thành;
 Mai Văn Thắng

                 Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học:
                 "Đánh giá 05 năm thi hành Hiến pháp 
                 nước CHXHCN Việt Nam 2013" 
                 Khoa Luật, ĐHQGHN, 9/2018

1.     Dẫn nhập
Một trong những nội dung mới và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đời sống chính trị, nhà nước và pháp luật Việt Nam là những quy định trong Điều 117 Hiến pháp 2013 về Hội đồng Bầu cử quốc gia (HĐBCQG). Sự ra đời thiết chế hiến định này không chỉ thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy lý luận về tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước mà còn khẳng định nỗ lực và quyết tâm của Việt Nam hướng tới các chuẩn mực chung, phổ quát trong việc bảo đảm thực hiện các quyền dân chủ của người dân, khẳng định nền tảng dân chủ, chủ quyền nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Kể từ khi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, ngày 6 tháng 01 năm 1946 để bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được tiến hành, nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, nước ta đã trải qua 14 cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội. Bầu cử là một trong những chế định quan trọng nhất của nền dân chủ, là cơ chế hợp pháp để người dân chuyển giao quyền lực thông qua con đường hòa bình, dân chủ, hợp pháp và văn minh. Đối với Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Bởi vậy sự thành công hay thất bại của cả bộ máy nhà nước, của hệ thống chính quyền phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, thành quả các cuộc bầu cử. Một trong các yếu tố góp nên thành công của các cuộc bầu cử là cơ quan phụ trách công tác bầu cử. Tuy nhiên, phải đến Hiến pháp năm 2013 Hội đồng bầu cử quốc gia với tư cách là cơ quan phụ trách bầu cử toàn quốc mới có được vị trí xứng đáng như vốn có của nó - thiết chế hiến định độc lập.

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2019

Pháp luật về xuất nhập cảnh, cư trú và lao động của người lao động nước ngoài ở các quốc gia vùng Vịnh và những gợi mở cho Việt Nam



                             Nguyễn Thị Kim Cúc
                    Mai Văn Thắng 
                       (Nguồn: Tạp chí NCLP
         số 2+3/2019)
Tóm tắt
Xuất nhập cảnh, cư trú và lao động của người lao động nước ngoài có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia. Bên cạnh những tác động tích cực thúc đẩy đầu tư, hợp tác kinh doanh, mở ra cơ hội nâng cao trình độ nguồn nhân lực, tiếp cận với nền khoa học công nghệ phát triển, chuyển giao tri thức, giao lưu văn hóa…, những hoạt động đó cũng phát sinh không ít hệ quả tiêu cực về chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước sở tại. Vì vậy, xây dựng, hoàn thiện và thực thi chính sách, pháp luật hiện đại, phù hợp đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Bài viết tập trung nghiên cứu các chính sách, quy định pháp luật đối với việc nhập cư, cư trú, lao động của người lao động nước ngoài ở các quốc gia vùng Vịnh mà điển hình là Qatar và UAE. Trên cơ sở đó bài viết đưa ra những đánh giá, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực này ở Việt Nam.
Từ khóa: Vùng Vịnh, lao động nước ngoài, xuất nhập cảnh, cư trú, pháp luật.
Law on immigration, residence and employment of foreign labor in the Gulf states and some suggestions for Vietnam
Nguyen Thi Kim Cuc - Ho Chi Minh City University of Law
Mai Van Thang – Vietnam National University, Hanoi – School of Law

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2018

Ảnh hưởng của pháp luật phương Tây đến pháp luật Nhật Bản trong lịch sử và những giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay



ảnh Internet
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Số 34 (3) tháng 9/2018.


Là giảng viên, tôi tâm niệm rằng, nỗ lực làm cho mình hoàn thiện hơn từng ngày là vô cùng quan trọng, nhưng có lẽ quan trong hơn tất cả là phải làm cho người học ngày càng giỏi hơn, gia tăng được nhiều hơn giá trị trong lĩnh vực chuyên môn, bởi suy cho cùng, người thầy dù có nỗ lực làm cho mình hoàn thiện hơn mỗi ngày cũng là hướng đến thành quả là người học.
Bài viết này là nỗ lực của một sinh viên năm thứ nhất dưới sự hướng dẫn của tôi. Bài viết chắc chắn chưa hoàn thiện, tuy nhiên, với một sinh viên năm thứ nhất đại học mà đã làm được như thế này là điều vô cùng trân quý. Ở cùng thời điểm năm nhất đại học như bạn ấy, tôi đã không làm được như thế. Mong rằng, đây là bước khởi đầu cho sự hoàn thiện và phát triển của sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Khoa Luật của chúng tôi. Xin được giới thiệu bài viết này và đây chỉ là báo cáo tóm lược công trình nghiên cứu gần 100 trang của các tác giả.

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích những lĩnh vực của hệ thống pháp luật Nhật Bản đã chịu tác động, ảnh hưởng của pháp luật các quốc gia phương Tây, làm rõ những yếu tố tiếp nhận pháp luật nước ngoài, những nguyên do góp nên thành công của hệ thống pháp luật Nhật Bản khi tiếp nhận pháp luật từ các hệ phái pháp luật tiến bộ khác nhau của phương Tây cũng như sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống của Nhật Bản với những giá trị tiến bộ ngoại lai qua đó chỉ ra những kinh nghiệm quý có thể tham khảo cho Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay.
Từ khóa: Ảnh hưởng của pháp luật, pháp luật phương Tây, pháp luật Nhật Bản, lịch sử pháp luật; pháp luật Việt Nam.